|
| |
TRÚNG PHONG
(Epolepsy –
Epolepsie)
Trúng phong là
trạng thái đột nhiên bất tỉnh, đồng thời có thể xuất hiện liệt nửa người, mắt
lệch, miệng méo, lưỡi cứng, nói khó hoặc không nói được …
Thường gặp nơi
những người hư yếu, người cao tuổi, huyết áp cao…
Bệnh có thể
xẩy quanh năm nhưng mùa đông và mùa xuân gặp nhiều hơn.
YHHĐ gọi là
Não Huyết Quản Ngoại Ý – Tai Biến Mạch Máu Não.
Thiên ‘Thích
Tiết Chân Tà’ (Linh Khu 75) viết: “Khi thân hình chúng ta bị trúng phong tà, nó
sẽ làm cho huyết mạch bị hữu dư, nó sẽ làm cho tứ chi bị khinh hoặc trọng, không
co duỗi được, làm cho thân mình khó xoay trở, khó cúi xuống hoặc ngửa lên, toàn
thân hoặc bán thân bất toại…”.
Thiên ‘Phong
Luận’ (Tố Vấn 42) viết: “ Phong trúng vào du huyệt của ngũ tạng lục phủ, truyền
nhập vào bên trong, cũng là phong của tạng phủ, tất cả đều trúng vào chỗ khí
huyết suy yếu, thiên về một chỗ gọi là thiên phong”.
Sách ‘Kim Quỹ
Yếu Lược’ nhận định rằng do lạc mạch bên trong bị trống rỗng nên phong tà bên
ngoài thừa cơ xâm nhập vào. Và sách Kim Quỹ là sách đầu tiên đưa ra Phong trúng
kinh, lạc, tạng hoặc phủ để phân biệt trạng thái nặng nhẹ của bệnh. Đời Đường,
thế kỷ thứ 5-6 các sách Thiên Kim Phương, Ngoại Đài Bí Yếu, Tế Sinh Phương cũng
đều bàn về chứng Trúng Phong nhưng cũng lập luận gần giống như sách Kim Quỹ. Đến
đời Kim Nguyên (thế kỷ 12-13) Lưu Hà Gian nêu lên thuyết hỏa thịnh, Lý Đông Viên
lại chủ trương do khí hư còn Chu Đan Khê cho rằng do đờm thấp. Vương Luân lại
dựa trên nguyên nhân gây bệnh phân ra làm Chân Trúng và Loại Trúng. Đời nhà
Minh (thế kỷ 16-17), Trương Cảnh Nhạc cho rằng không phải do phong, mà do ‘nội
thương tích tổn’. Lý Sỹ Tài lại chia Trúng phong thành hai loại là Bế Chứng và
Thoát Chứng. Đời Thanh (thế kỷ 17-18), Diệp Thiên Sỹ lại cho rằng do Can dương
sinh ra nội phong gây nên. Trương Bá Long, Trương Sơn Lôi, Trương Tích Thuần lại
cho rằng do âm dương không điều hòa, khí huyết nghịch loạn, trực trúng phạm vào
não gây nên.
Trúng phong
thường gây nên tai biến chính là: Mạch máu não bị ngăn trở hoặc xuất huyết não
sẽ làm cho não tủy bị tổn thương. Thường thấy có những biểu hiện sau:
. Hôn Mê:
thường thấy ngay từ đầu. Nếu nhẹ thì tinh thần hoảng hốt, mê muội, thích khạc
nhổ hoặc ngủ mê man. Nếu nặng thì hôn mê, bất tỉnh. Có bệnh nhân lúc đầu còn
tỉnh táo, vài ngày sau mới hôn mê. Đa số bệnh nhân khi hôn mê kèm nói sảng, vật
vã không yên.
. Liệt Nửa
Người: Nhẹ thì cảm thấy tay chân tê, mất cảm giác, tay chân không có sức. Nặng
thì hoàn toàn liệt. Thường chỉ liệt một bên và đối xứng với bên não bị tổn
thương. Đa số liệt dạng mềm, chỉ có một số ít liệt dạng cứng, co rút. Thường lúc
đầu bị liệt dạng mềm rũ, tay chân không có sức, nhưng một thời gian sau, lại bị
co cứng, các ngón tay, chân không co duỗi được.
. Miệng Méo,
Lưỡi Lệch: thường gặp ở giai đoạn đầu kèm chảy nước miếng, ăn uống thường bị rớt
ra ngoài, khó nuốt.
. Nói Khó Hoặc Không Nói
Được: Nhẹ thì nói khó, nói ngọng, người bệnh cảm thấy lưỡi của mình như bị cứng.
Nếu nặng, gọi là trúng phong bất ngữ, không nói được. Thường một thời gian sau
chứng khó nói sẽ bình phục dần.
Nguyên Nhân
Tuy nhiều tác
giả chủ trương khác nhau nhưng chủ yếu là do bên trong bị tổn thương, lạc mạch
trống rỗng nên phong tà bên ngoài dễ xâm nhập vào, kèm Can Thận suy yếu nên dễ
sinh ra nội phong.
Thường thấy
một số nguyên nhân sau:
+ Ngoại
Phong: Thuyết này bắt đầu từ thiên ‘Phong Luận’ (Tố Vấn 45) khi cho rằng chứng
thiên khô (liệt nửa người) là do chính khí hư, tà khí lưu lại. Thiên ‘Trúng
Phong Lịch Tiết’ (Kim Quỹ Yếu Lược) viết: «Mạch thốn khẩu Phù mà Khẩn, Khẩn
thuộc hàn, Phù thuộc hư, hàn và hư cùng chạm nhau là tà ở ngoài bì phu. Mạch Phù
là huyết hư, lạc mạch bị trống rỗng, tà khí lưu lại hoặc ở bên trái hoặc bên
phải, mà tà khí lại hoãn, chính khí thì cấp, vì vậy chính khí dẫn tà khí vào
thành ra chứng oa tà, bất toại». Điều này cho thấy do mạch lạc trống rỗng,
phong tà bắt đầu từ phần biểu vào phần lý gây nên chứng oa tà, bất toại. Trường
hợp này tuy có phần nào do bên trong hư yếu nhưng cần chú trọng đến ngoại phong.
+ Hỏa Thịnh:
Do Lưu Hà Gian đề xướng. Ông cho rằng trúng phong vốn do hỏa của Tâm quá thịnh,
thận thủy suy yếu. Thận hư không ức chế được hỏa gây nên âm hư dương thịnh, hư
hỏa bốc lên trên che lấp tâm thần khiến cho người bệnh ngã lăn ra bất tỉnh.
Trương Bá Long lại cho rằng do hỏa của Tâm và Can quá thịnh làm cho khí huyết
bốc lên gây ra chứng ‘thốt trúng’.
+ Nội Phong: Diệp Thiên Sỹ
cho rằng trúng phong là do dương khí trong cơ thể biến động vì Can là tạng thuộc
phong, nếu tinh huyết suy kém, thủy không nuôi được mộc, mộc không tươi tốt, cho
nên phần dương của can thịnh, khiến cho nội phong bốc lên gây ra chứng trúng
phong. Hoặc do Can âm suy, huyết bị táo sinh ra nhiệt, nhiệt làm phong dương bốc
lên che lấp các khiếu của lạc mạch, gây nên chứng trúng phong.
+ Thấp Đờm:
Do Chu Đan Khê khởi xướng. Ông dựa vào địa lý cho rằng: «Miền tây bắc khí hậu
lạnh thì bị trúng phong là thực chứng, miền Đông Nam khí ôn mà đất nhiều thấp,
nếu bị trúng phong thì không phải là phong mà đều do thấp sinh ra đờm, đờm sinh
nhiệt, nhiệt sinh phong. Chủ yếu là ở thấp tà. Trong trường hợp trúng phong, tuy
đờm không phải là nguyên nhân chính nhưng hầu hết đều có dấu hiệu của đờm (khò
khè, sùi bọt mép…), do hỏa của Tâm và Can thịnh, tân dịch bị nung đốt hóa thành
đờm gây nên bệnh.
+ Khí Hư:
thường có liên hệ với tuổi tác và thể chất của người bệnh. Chu Đan Khê cho rằng
«Trúng phong không phải do phong tà từ bên ngoài vào mà do khí ở trong người tự
gây nên bệnh».
+ Do Chính Khí Suy Yếu:
Người lớn tuổi, người vốn suy nhược, người bệnh lâu ngày khí huyết bị suy tổn,
nguyên khí bị hao tổn, não mạch không được nuôi dưỡng, khí hư không đủ sức để
vận hành huyết, huyết khó lưu thông làm cho mạch máu ở não bị ứ trệ không thông,
âm huyết suy yếu không ức chế được dương, nội phong bốc lên, hợp với đờm trọc, ứ
huyết làm che lấp thanh khiếu gây nên bệnh.
. Do Lao Lực Nội Thương:
Lao nhọc quá độ sẽ khiến cho dương khí bốc lên, dẫn đến phong dương bị động. Nội
phong động thì hỏa sẽ bốc lên. Hoặc kèm đờm, ứ huyết che lấp thanh khiếu, mạch
lạc. Do Can dương bốc lên, khí huyết vọt mạnh lên gây nên trúng phong, bệnh
thường nặng.
. Do Tỳ Mất Chức Năng Kiện
Vận, đờm sinh ra ở bên trong: Ăn uống thức ăn ngọt, béo, uống rượu… làm cho Tỳ
Vị bị tổn thương, Tỳ mất chức năng vận hóa thì sẽ sinh ra đờm, đờm uất lâu ngày
hóa thành nhiệt, đờm nhiệt cùng hợp nhau uất trệ ở kinh mạch, bốc lên che lấp
thanh khiếu. Hoặc do Can vốn vượng, khí cơ uất kết, làm tổn thương Tỳ thổ (Can
khí phạm Vị), đờm trọc sẽ sinh ra. Hoặc Can uất hóa hỏa, nung đốt tân dịch thành
đờm, đờm uất kết lại, xâm nhập vào kinh mạch gây nên bệnh. Vì vậy sách ‘Đan Khê
Tâm Pháp – Trúng Phong’ viết: “Thấp thổ sinh đờm, đờm sinh nhiệt, nhiệt sinh
phong vậy”.
. Do Ngũ Chí Bị Tổn Thương,
tình chí quá mức: Thất tình (bẩy loại tình chí) không điều hòa, Can mất chức
năng điều đạt, khí bị uất trệ, huyết không thông hành, ứ kết ở não mạch. Giận dữ
quá làm tổn thương Can làm cho Can dương bộc phát lên. Hoặc Tâm hỏa quá thịnh,
phong và hỏa hợp với nhau, huyết bị uất, khí nghịch lên, đưa lên não. Tình chí
thất thường đều có thể làm cho khí huyết nghịch lên não gây ra trúng phong.
Thường gặp nhiều nơi người giận dữ quá.
Ngoài ra có
những trường hợp trúng phong do ngoại tà bên ngoài gây nên. Thí dụ như trường
hợp phong tà bên ngoài nhân cơ hội cơ thể suy yếu, xâm nhập vào kinh lạc, làm
cho khí huyết bị ngăn trở, cơ nhục, gân mạch không được nuôi dưỡng. Hoặc do
ngoại tà làm cho đờm thấp bốc lên, làm ngăn trở kinh lạc gây nên. Những trường
hợp này, người xưa gọi là Trực Trúng.
Tóm lại, Trúng
phong xẩy ra thường do khí hậu thay đổi, lao nhọc quá mức, tình chí bị kích
thích, bị Tóm lại, Trúng phong xẩy ra thường do khí hậu thay đổi, lao nhọc quá
mức, tình chí bị kích thích, bị
Biện Chứng
Sách ‘Kim Quỹ
Yếu Lược’ khi bàn về chứng trúng phong chủ yếu phân ra nặng nhẹ, nông sâu để
phân biệt. Trương Trọng Cảnh cho rằng: «Tà ở lạc thì da thịt bị tê, tà ở đường
kinh thì nặng nề, tà vào phủ thì hôn mê bất tỉnh, tà vào tạng thì lưỡi cứng khó
nói, sùi bọt mép». Sau này, các sách cũng theo cách phân chia này để dễ trình
bầy.
Tuy nhiên dựa
vào triệu chứng lâm sàng, có thể phân làm hai trường hợp sau:
- Chứng Bế:
Hai tay nắm chặt, hàm răng cắn chặt, thở khò khè như kéo cưa, mặt đỏ, rêu lưỡi
vàng nhớt, mạch Hồng, Sác, Huyền là Chứng Bế loại dương chứng. Nếu nằm yên,
không vật vã, thở khò khè, rêu lưỡi trắng trơn mà có nhớt, mạch Trầm Hoãn, là
Chứng Bế loại âm chứng
- Chứng Thoát:
Mắt nhắm, miệng há, thở khò khè, tay chân duỗi ra, nặng thì mặt đỏ, mồ hôi ra
thành giọt, chân tay lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch Vi, Tế, muốn tuyệt. Đây là
dấu hiệu dương khí muốn thoát, bệnh tình rất nguy hiểm.
Nguyên Tắc
Điều Trị
Trúng phong là
chứng cấp, xẩy ra đột ngột, vì vậy, phải chữa ngọn (tiêu) trước. Chú trọng đến
việc khứ tà. Thường dùng phép bình Can, tức phong, thanh hóa đờm nhiệt, hóa đờm,
thông phủ, hoạt huyết, thông lạc, tỉnh thần, khai khiếu. Thường phân ra chứng bế
và thoát để dễ xử lý. Bế chứng: khứ tà, khai khiếu, tỉnh thần, phù chính. Thoát
chứng: cứu âm cố dương. Đối với chứng ‘nội bế ngoại thoát’ nên phối hợp khai
khiếu, tỉnh thần với phù chính cố bản. Khi điều trị di chứng, thường thấy hư
thực lẫn lộn, tà thực chưa giải hết đã thấy xuất hiện hư chứng, nên phù chính,
khứ tà, thường dùng phép dục âm, tức phong, ích khí, hoạt huyết.
Triệu Chứng
Trên lâm sàng
thường gặp các chứng sau:
+ Phong Đờm Ưù
Huyết Trở Trệ Lạc Mạch: Liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch, lưỡi cứng, nói
khó, nửa người giảm cảm giác, đầu váng, hoa mắt, lưỡi tối nhạt, rêu lưỡi trắng
nhạt hoặc trắng nhờn, mạch Huyền Hoạt.
Điều trị: Hoạt
huyết, hóa ứ, thông lạc. Dùng bài Hóa Đờm Thông Lạc Thang.
(Bán hạ, Phục
linh, Bạch truật kiện Tỳ, hóa thấp; Đởm nam tinh, Thiên trúc hoàng thanh hóa đờm
nhiệt; Thiên ma bình Can, tức phong; Hương phụ sơ Can lý khí, điều sướng khí,
giúp cho Tỳ vận hóa thấp. Hợp với Đan sâm để hoạt huyết, hóa ứ; Đại hoàng thông
phủ, tả nhiệt, lương huyết, quét sạch đờm nhiệt tích trệ bên trong.
Nếu huyết ứ
nhiều, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết, thêm Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược để
hoạt huyết, hóa ứ. Rêu lưỡi vàng nhớt, phiền táo không yên, có dấu hiệu của
nhiệt thêm Hoàng cầm, Chi tử để thanh nhiệt, tả hỏa. Đầu váng, đầu đau thêm Cúc
hoa, Hạ khô thảo để bình Can, tức phong.
+ Can Dương
Thịnh, Phong Hỏa Bốc Lên: Liệt nửa người, mửa người tê dại, lưỡi cứng, khó nói
hoặc không nói được, hoặc miệng méo, chóng mặt đau đầu, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng
đắng, họng khô, tâm phiền, dễ tức giận, nước tiểu đỏ, táo bón, rêu lưỡi đỏ hoặc
đỏ tím, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch Huyền có lực.
Điều trị: Bình
Can, tả hỏa, thông lạc. Dùng bài Thiên Ma Câu Đằng Ẩm.
(Thiên ma, Câu
đằng bình Can, tức phong; Thạch quyết minh (sống) trấn Can, tiềm dương; Ngưu tất
dẫn huyết đi xuống; Hoàng cầm, Sơn chi, Hạ khô thảo thanh Can, tiết hỏa).
Đầu váng, đau
đầu thêm Cúc hoa, Tang diệp. Tâm phiền, dễ tức giận thêm Đơn bì, Bạch thược; Táo
bón thêm Đại hoàng. Nếu thấy hoảng hốt, mê man, do phong hỏa bốc lên thanh
khiếu, do tà từ kinh lạc chuyển vào tạng phủ, nên dùng Ngưu Hoàng Thanh Tâm Hoàn
hoặc An Cung ngưu Hoàng Hoàn để khai khiếu, tỉnh thần. Nếu phong hỏa hợp với
huyết bốc lên, nên dùng phép lương huyết, giáng nghịch để dẫn huyết đi xuống.
+ Đờm Nhiệt
Tạng Thực, Phòng Đờm Thượng Kháng: liệt nửa người, mắt lệch, miệng méo, nói khó
hoặc không nói được, nửa người giảm cảm giác, bụng trướng, phân khô, táo bón,
đầu váng, hoa mắt, khạc đờm hoặc đờm nhiều, lưỡi đỏ tối hoặc tối nhạt, lưỡi vàng
hoặc vàng nhớt, mạch Huyền Hoạt hoặc Huyền Hoạt mà Đại.
Điều trị: Hóa
đờm thông phủ. Dùng bài Tỉnh ??? Thừa Khí Thang.
(Đại hoàng,
Mang tiêu quét sạch trường vị, thông phủ, tiết nhiệt; Quát lâu, Đởm nam tinh
thanh nhiệt, hóa đờm. Có thể thêm Đan sâm để hoạt huyết, thông lạc).
Nếu lưỡi vàng
nhớt, mạch Huyền Hoạt, táo bón, là dấu hiệu của nhiệt, thêm Chi tử, Hoàng cầm.
Người lớn tuổi suy yếu, tân dịch suy kém, thêm Sinh địa, Mạch môn, Huyền sâm.
Táo bón nhiều ngày không đi tiêu được đờm nhiệt tích trệ gây nên bứt rứt không
yên, lúc tỉnh lúc mê, nói sàm, đó là trọc khí chư a trừ được, khí huyết bốc lên,
xâm nhập vào não gây nên chứng phong trúng tạng phủ. Cần dùng phương pháp thông
hạ
+ Khí Hư Huyết
Ứ: Liệt nửa người, miệng méo, lưỡi lệch, nói khó hoặc không nói được, nửa người
mất cảm giác, sắc mặt u tối, hơi thở ngắn, không có sức, chảy nước miếng, tự ra
mồ hôi, hồi hộp, tiêu lỏng, tay chân phù, lưỡi tối nhạt, rêu lưỡi trắng hoặc
trắng nhạt, mạch Trầm Tế, Tế Sác hoặc Tế Huyền.
Điều trị: Ích
khí, hoạt huyết, phù chính, khứ tà. Dùng bài Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang.
(Hoàng kỳ bổ
khí, phối hợp với Đương quy dưỡng huyết; Hợp với Xích thược, Đương quy, Đào
nhân, Hồng hoa, Địa long để hoạt huyết, hóa ứ, thông lạc.
Khí hư thêm
Đảng sâm, Thái tử sâm để ích khí, thông lạc. Nói khó thêm Viễn chí, Thạch xương
bồ, Uất kim để khứ đờm, thông khiếu. Hồi hộp, suyễn khó thở, thêm Quế chi, Chích
cam thảo để ôn kinh, thông dương. Tay chân tê thêm Mộc qua, Thân cân thảo, Phòng
kỷ để thư cân, hoạt lạc. Tê chi trên thêm Quế chi để thông lạc. Chi dưới yếu,
không có sức thêm Tục đoạn, Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất để làm mạnh gân
xương. Tiểu không tự chủ thêm Tang phiêu tiêu, Ích trí nhân để ôn Thận, cố sáp.
Huyết ứ nhiều thêm Nga truật, Thủy điệt, Quỷ tiễn vũ, Kê huyết đằng để phá
huyết, thông lạc.
+ Âm Hư Phong
Động: Liệt nửa người, miệng méo, lưỡi cứng, nói khó hoặc không nói được, nửa
người tê dại, phiền táo, mất ngủ, chóng mặt, tai ù, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ
sẫm hoặc đỏ tối, ít rêu hoặc không rêu, mạch Tế Huyền hoặc Tế Huyền Sác.
Điều trị: Tư
dưỡng Can Thận, tiềm dương, tức phong. Dùng bài Trấn Can Tức Phong Thang.
(Long cốt, Mẫu
lệ, Đại giả thạch trấn Can, tiềm dương; Quy Bản, Bạch thược, Huyền sâm, Thiên
môn tư dưỡng Can Thận âm).
Nếu nặng thì
dùng Ngưu tất hỗ trợ cho Xuyên luyện tử để dẫn khí huyết đi xuống; Hợp với Nhân
trần, Mạch nha để thanh Can, thư uất. Có thể phối hợp với Câu đằng, Cúc hoa để
tức phong, thanh nhiệt. Có đờm nhiệt thêm Thiên trúc hoàng, Trúc lịch, Bối mẫu
để thanh hóa đờm nhiệt. Tâm phiền, mất ngủ thêm Hoàng cầm, Sơn chi để thanh tâm,
trừ phiền; Thêm Dạ giao đằng Trân châu mẫu để trấn Tâm, an thần. Đầu đau, đầu
nặng thêm Thạch quyết minh, Hạ khô thảo để thanh Can, tức phong.
+ Đờm Nhiệt
Nội Bế Thanh Khiếu: Bệnh bắt đầu đột ngột, hôn mê, liệt nửa người, mũi nghẹt,
đờm khò khè, tay chân gồng cứng, co rút, gáy lưng và cơ thể nóng, bứt rứt không
yên, tay chân lạnh, có khi nôn ra máu, lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng nhờn, hoặc
khô, mạch Huyền Hoạt Sác.
Điều trị:
Thanh nhiệt, hóa đờm, tỉnh thần, khai khiếu. Dùng bài Linh Dương Giác Thang kèm
dùng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn đổ cho uống hoặc thổi vào mũi.
(Linh dương
giác, trân châu mẫu, Trúc nhự, Thiên trúc hoàng để thanh hóa đờm nhiệt; Thạch
xương bồ, Viễn chí hóa đờm, khai khiếu; Hạ khô thảo, Đơn bì thanh Can, lương
huyết).
Đờm nhiều thêm
Trúc lịch, Đởm nam tinh. Nhiệt nhiều thêm Hoàng cầm, Sơn chi tử. Hôn mê nặng
thêm Uất kim.
+ Đờm Thấp Che
Lấp Tâm Khiếu: Cơ thể vốn bị dương hư, thấp đờm nội uẩn, khi phát bệnh thì hôn
mê, liệt nửa người, tay chân mềm, không ấm hoặc lạnh, mặt trắng, môi xám, đờm
dãi nhiều, lưỡi tối nhạt, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch Trầm, Hoạt hoặc Trầm Hoãn.
Điều trị: Ôn
dương hóa đờm, tỉnh thần, khai khiếu. Dùng bài Cổn Đờm Thang kèm dùng Tô Hợp
Hương Hoàn đổ vào cho uống hoặc thổi vào mũi.
(Bán hạ, Trần
bì, Phục linh kiện Tỳ, táo thấp, hóa đờm; Đởm nam tinh, Trúc nhự thanh hóa đờm
nhiệt; Thạch xương bồ hóa đờm khai khiếu).
+ Nguyên Khí
Bại Thoát, Thần Minh Tán Loạn: Đột ngột hôn mê, chân tay mềm yếu, ra mồ hôi
nhiều. Nặng hơn thì toàn thân lạnh, nặng nề, tiêu tiểu không tự chủ, lưỡi mềm,
lưỡi mầu đỏ tối, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch Trầm Hoãn, Trầm Vi.
Điều trị: Ích
khí, hồi dương, cố thoát. Dùng bài Sâm Phụ Thang.
(Nhân sâm đại
bổ nguyên khí. Phụ tử ôn Thận, tráng dương; Hai vị này phối hợp với nhau có tác
dụng ích khí, hồi dương, cố thoát).
Mồ hôi ra
nhiều thêm Ngô thù du, Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ để thu hãn, cố thoát. Nếu có
kèm ứ, thêm Đan sâm.
+
Phong Trúng Kinh Lạc: Dưỡng huyết, khu phong, thông kinh, hoạt lạc.
. Lúc mới bắt
đầu, nên dùng bài Đại Tần Giao Thang hoặc Đại Hoạt Lạc Đơn, Tiểu Hoạt Lạc Đơn…
Nếu có biến chứng nóng lạnh, dùng bài Tiểu Tục Mệnh Thang.
. Nếu có di
chứng, có thể dùng những bài thuốc trên và nên bổ khí, trừ ứ huyết, thông kinh,
hoạt lạc. Dùng bài Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang,
miệng méo,
dùng bài Khiên Chính Tán. Nói khó, dùng bài Tư Thọ Giải Ngữ Thang.
+ Phong Trúng
Tạng Phủ
Bế chứng: Trừ
đờm, khai khiếu.
. Dương Bế:
Dùng Chí Bảo Đơn, Ngưu Hoàng Thanh Tâm Hoàn.
. Âm Bế: Dùng
Tô Hợp Hương Hoàn uống kèm với Trúc lịch hòa nước cốt Gừng.
Hàm răng
nghiến chặt: dùng bài Tam Hỏa Thang.
Thoát Chứng:
Hồi dương, cứu thoát. Dùng bài Sâm Phụ Thang. Nếu chứng thoát mà kèm đờm dãi bế
tắc khiếu ở trong không thông, đó là dấu hiệu trong bế ngoài thoát, dùng bài Tam
Sinh Ẩm thêm nhiều Nhân sâm để vừa khai bế, vừa cố thoát.
Khi qua cơn
tỉnh lại, nếu do nội phong nặng, cần tư âm, tiềm dương, trấn hỏa, tức phong,
dùng bài Đại Định Phong Châu hoặc Chân Châu Hoàn. Nếu thiên về hỏa thịnh thì nên
thanh Can, giáng hỏa, dùng bài Linh Dương Giác Thang hoặc Long Đởm Tả Can Thang.
Nếu nhiều đờm thêm Trúc lịch và nước cốt Gừng. Nếu chứng thoát đã giữ được nhưng
nguyên khí vẫn suy yếu, nên tiếp tục dùng Nhân sâm cho uống. Đờm nhiều cần khai
khiếu, cổn đờm, dùng bài Đạo Đờm Thang. Âm và dương đều hư nên dùng bài Địa
Hoàng Ẩm Tử.
Châm Cứu
Trị Trúng Phong
+ Phong Trúng
Kinh Lạc
. Sơ thông
kinh lạc, điều hòa khí huyết. Châm huyệt Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hoàn
khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tuyệt cốt, Giải khê, Côn lôn.
(Dương chủ vận
động, điều khiển vận động của cơ thể, chân tay, bệnh ở phần dương, vì vậy chọn
huyệt ở các đường kinh dương ở tay và chân. Kinh Dương minh nhiều khí nhiều
huyết. Khí huyết của kinh dương minh vận hành tốt, chính khí mạnh lên thì các
rối loạn sẽ hết, vì vậy trong 3 kinh dương, chọn kinh dương minh làm chính. Phối
hợp với các huyệt khác để tăng cường tác dụng sơ thông kinh mạch, điều hòa khí
huyết (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Sách ‘Bị Cấp
Châm Cứu’ còn chia ra các loại sau:
. Can Dương
Thượng Cang: Bình Can, tiềm dương, thông kinh hoạt lạc. Dùng huyệt Thái xung,
Hợp cốc, Phong trì, Phong phủ, Bá hội, Liêm tuyền, Kiên ngung, Khúc trì, Hoàn
khiêu, Bể quan, Túc tam lý.
Thái xung, Hợp
cốc, châm cả hai bên, các huyệt khác châm bên bệnh, dùng phép tả. Mỗi lần lưu
kim 30 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. 5 ngày là một liệu trình. Nghỉ 5 ngày lại
châm tiếp. Liệu trình 1: ngày châm một lần, liệu trình 2 cách ngày châm một lần.
(Thái xung,
Hợp cốc là nhóm huyệt ‘Tứ Quan’ có tác dụng hành khí, hoạt huyết, an thần, khai
khiếu. Đồng thời Thái xung cũng là huyệt Nguyên của kinh Can, dùng phép tả có
tác dụng bình Can, tả hỏa, tiềm dương. Phong phủ là huyệt giao hội của mạch Đốc,
hợp huyệt Phong trì của kinh Đởm đẻ tăng tác dụng khứ phong, thanh nhiệt, chỉ
huyễn, an thần. Các huyệt khác thuộc kinh Dương minh. Kinh Dương minh nhiều khí
nhiều huyết. Đường kinh Dương minh được thông, chính khí mạnh lên thì tà khí sẽ
bị trừ, bệnh sẽ khỏi) (Bị Cấp Châm Cứu).
. Đờm Nhiệt
Phủ Thực: dùng phép Thanh tả đờm nhiệt, thông phủ, hoạt lạc. Dùng các huyệt
Trung quản, Thiên xu, Phong long, Hợp cốc, Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan,
Hoàn khiêu, Bể quan, Túc tam lý, Ủy trung, Côn lôn, Liêm tuyền.
Huyệt Thiên xu
và Phong long châm hai bên, các huyệt khác châm bên bệnh, dùng phép tả. Mỗi lần
lưu kim 30 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. 5 ngày là một liệu trình. Nghỉ 5 ngày
lại châm tiếp. Liệu trình 1: ngày châm một lần, liệu trình 2 cách ngày châm một
lần.
(Thiên xu,
Trung quản là huyệt Mộ của kinh Đại trường và kinh Vị, hợp với Phong long có thể
thanh tả đờm nhiệt ở vị trường, làm thông khí ở phủ, tiêu trệ, thông tiện. Liêm
tuyền là huyệt giao hội của mạch nhâm và Âm duy, có tác dụng khai khiếu, trừ
đờm, làm thông lưới, họng. Các huyệt còn lại thuộc 3 kinh dương, có tác dụng sơ
thông kinh mạch, điều hòa khí huyết) (Bị Cấp Châm Cứu).
. Phong Đờm
Trở Kết: dùng phép khứ phong, cổn đờm,hoạt huyết, thông lạc.
Dùng huyệt
Phong trì, Phong phủ, á hội, Can du, Tỳ du, Phong long, Kiên ngung, Khúc trì,
Ngoại quan, Hoàn khiêu, Bể quan, Ủy trung, Dương lăng tuyền, Liêm tuyền.
Phong trì, Can
du, Tỳ du, Phong long, châm cả hai bên, các huyệt khác châm bên bệnh. Mỗi lần
lưu kim 30 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. 5 ngày là một liệu trình. Nghỉ 5 ngày
lại châm tiếp. Liệu trình 1: ngày châm một lần, liệu trình 2 cách ngày châm một
lần.
(Phong trì,
Phong phủ, Can du là huyệt chính để khứ phong Phong long, Tỳ du điều lý Tỳ Vị,
cổn đờm. 5 huyệt này có tác dụng trừ phong đờm ở kinh lạc. Các huyệt cục bộ có
tác dụng làm thông khí huyết, điều lý kinh mạch).
. KhíHư Huyết
Ứ: dùng phép ích khí, hoạt huyết, sơ kinh, thông lạc.
Dùng huyệt
Cách du, Can du, Tỳ du, Khí hải, Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hoàn khiêu,
Bể quan, Huyết hải, Túc tam lý, Côn lôn, Liêm tuyền.
Các huyệt ở
lưng châm cả hai bên, các huyệt khác châm bên bệnh. Châm bổ.
Mỗi lần lưu
kim 30 phút, cứ 5 phút vê kim một lần. 5 ngày là một liệu trình. Nghỉ 5 ngày lại
châm tiếp. Liệu trình 1: ngày châm một lần, liệu trình 2 cách ngày châm một lần.
(Can du, Tỳ du
ích khí, bổ huyết, hoạt huyết. Phối hợp với huyệt hội của huyết là Cách du và
huyệt bổ khí là Khí hải, có tác dụng ích khí, hoạt huyết. Phối hợp với các huyệt
của 3 kinh dương và huyệt Huyết hải của kinh Tỳ, có tác dụng làm thông ứ trệ ở
kinh lạc. Khí huyết vận hành không bị ngăn trở, tay chân, cơ nhục được nuôi
dưỡng thì bệnh sẽ khỏi) (Bị Cấp Châm Cứu).
. Âm Hư Phong
Động: Tư âm, tức phong, hoạt huyết, thông lạc.
Châm huyệt
Thận du, Phục lưu, Thái xung, Phong trì, Tam âm giao, Kiên ngung, Khúc trì,
Ngoại quan, Hoàn khiêu, Bể quan, Túc tam lý, Tuyệt cốt, Liêm tuyền.
5 huyệt trước,
châm cả hai bên, các huyệt còn lại châm bên bệnh. Châm bổ. Mỗi lần lưu kim 30
phút, cứ 5 phút vê kim một lần. 5 ngày là một liệu trình. Nghỉ 5 ngày lại châm
tiếp. Liệu trình 1: ngày châm một lần, liệu trình 2 cách ngày châm một lần.
(Thâïn du,
Phục lưu, Thái xung để tư bổ Can Thận âm; Tam âm giao phù thổ bồi nguyên, điều
bổ Can Thận; Phong trì là huyệt phối hợp bên trên để làm cho hư phong khỏi bốc
lên gây chóng mặt. Các huyệt cục bộ có tác dụng vận hành khí huyết, sơ thông
kinh lạc, âm huyết nuôi dưỡng được cơ thể, sẽ hết bị co rút, tê dại sẽ hết) (Bị
Cấp Châm Cứu).
+ Phong Trúng
Tạng Phủ
. Bế Chứng:
Khải bế, khai khiếu.
Châm các huyệt
Nhân trung, Thập nhị tỉnh, Hợp cốc, Thái xung, Phong long.
(Thập nhỉ tỉnh
huyệt, châm ra máu để khai bế, làm thông kinh khí 3 kinh âm, 3 kinh dương, quân
bình âm dương. mạch Đốc thông lên não, Nhân trung là yếu huyệt thuộc mạch Đốc,
châm tả có tác dụng vận hành khí huyết ở mạch Đốc, có tác dụng khải bế, khai
khiếu. Hợp cốc hợp với Thái xung là huyệt Tứ Quan, dùng để trấn Can, giáng
nghịch, tiềm dương, tức phong. Phong long là huyệt Lạc của kinh túc dương minh
Vị, có tác dụng kích thích khí của Tỳ Vị, tiêu trọc, hóa đờm. Dùng kim tam lăng
châm ra máu 12 huyệt Tỉnh để tả.
Hàm răng cắn
chặt, thêm Địa thương, Giáp xa. Không nói được thêm Thông lý, Á môn. Tiêu tiểu
khó, thêm Thủy câu, Chiếu hải (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
. Thoát Chứng:
Hồi dương cố thoát. Dùng huyệt Quan nguyên, Thần khuyết.
Quan nguyên
cứu trực tiếp bằng mồi ngải lớn; Thần khuyết cứu cách muối. Cứu đến khi thấy
tỉnh, tay chân ấm thì thôi.
(Quan nguyên
là huyệt hội của mạch Nhâm với 3 kinh âm, là nơi khí Tam tiêu xuất ra, thuộc về
chân dương của mệnh môn, là huyệt âm trong dương. Nguyên dương thoát ra ngoài vì
vậy phải cứu dương. Thần khuyết nằm ở giữa rốn, là chỗ của chân khí, dùng huyệt
này để cố thoát (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
. Phong Hỏa Tế
(che) Khiếu: Tiết hỏa, tức phong, bình Can, khai khiếu.
Châm Dũng
tuyền, Thủy câu (Nhân trung), Thập nhị tỉnh huyệt, Thái xung, Hợp cốc.
Châm tả. 12
huyệt Tỉnh châm ra máu. Liên tục vê kim cho đến khi tỉnh.
(Bệnh này do
Can hỏa uất trệ, Can dương bộc phát, khí huyết nghịch lên trên gây nên, vì vậy
châm 12 huyệt Tỉnh cho ra máu, hợp với huyệt Nhân trung để tả nhiệt, khai bế.
Can mạch bốc lên, châm Thái xung để giáng khí nghịch ở kinh Can, bình Can, tức
phong. Thái xung hợp với Hợp cốc là huyệt Tứ Quan, châm tả có tác dụng khải bế,
khai khiếu. Dũng tuyền để tư âm giáng hỏa, an thần, định chí, là huyệt chính để
cấp cứu) (Bị Cấp Châm Cứu).
. Đờm Thấp Che
Lấp Khiếp: Cổn đờm, lợi thấp, khải bế, khai khiếu.
Châm huyệt
Phong long, Hợp cốc, Thái cung, Thủy câu. Châm tả, vê kim liên tục cho đến khi
tỉnh.
(Tỳ Vị là
nguồn gốc sinh ra đờm, đờm trọc ủng kết, khí cơ nghịch loạn, khiến cho đờm trọc
bốc lên che lấp thanh khiếu, dùng huyệt Lạc của kinh Vị là Phong long để tuyên
thông khí ở Tỳ Vị, độc hóa đờm trọc; Hợp cốc, Thái xung là huyệt Tứ quan, châm
tả để khai quan, khải bế, thông khiếu, tỉnh thần. Thủy câu châm tả để tỉnh não,
khai khiếu) (Bị Cấp Châm Cứu).
. Nguyên Khí
Suy Bại: Hồi dương cứu thoát. Dùng huyệt Quan nguyên, Thần khuyết. Cứu 15 tráng,
Thần khuyết cứu cách muối.
(Nhâm mạch là
bể của âm mạch. Quan nguyên là huyệt hội của mạch Nhâm với 3 kinh âm, là nơi khí
Tam tiêu xuất ra, thuộc về chân dương của mệnh môn, là huyệt âm trong dương.
Nguyên dương thoát ra ngoài vì vậy phải cứu dương. Thần khuyết nằm ở giữa rốn,
là chỗ của chân khí, vì vậy dùng phép cứu mạnh hai huyệt này có thể hồi dương
đang muốn thoát) (Bị Cấp Châm Cứu).
Đầu Châm
Chọn huyệt:
Vận Dụng Khu, Túc Vận Cảm Khu, nghịch với bên bệnh. Châm luồn kim dưới da đầu,
kích thích xung điện. Mỗi lần 20~30 phút. Châm đến khi người bệnh thấy có cảm
giác ở bên bệnh. Cách ngày châm 1 lần, 10 ngày là một liệu trình. Nghỉ 5 ngày
rồi lại tiếp tục.
Nhĩ Châm
Chọn huyệt
Thượng thận, Thần môn, Thận, Tỳ, Tâm, Can, Đởm, Nhãn, Não, Nhĩ tiêm, Điểm tương
ứng vùng khó cử động, Rãnh hạ áp. Chọn 3~5 huyệt, cả hai bên tai. Chứng bế: châm
ra máu huyệt Nhĩ tiêm. 10 ngày là một liệu trình, nghỉ 3~5 ngày lại tiếp tục
liệu trình thứ hai. Có thể dùng Vương bất lưu hành tán bột, dán vào các huyệt ở
tai.
Tham Khảo
. Đột nhiên bị
bạo thoát, miệng há, tay chân duỗi, tiểu không biết, cực hư mà dương muốn thoát:
Cứu ở phía dưới rốn (Chứng Trị Chuẩn Thằng).
. Trúng phong
đờm đưa lên, 6 bộ mạch Trầm, Phục, bất tỉnh nhân sự, tiếng nói như muốn hết hơi,
cứu nhiều huyệt Quan nguyên và Đan điền (Tế Sinh Phương).
. Phi phong,
thốt quyết: Dùng muối sao, để vào giữa rốn, để miếng Gừng lên rồi lấy ngải nhung
đốt cứu 100 đến 500 tráng, rất công hiệu (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
. Trúng phong
cấm khẩu:, hàm cứng không há được: châm Thủy câu, Giáp xa (Châm Cứu Trích Anh
Tập)
. Thiên phong,
tay chân tê mất cảm giác:, co duỗi khó khăn: cứu Thủ tam lý, có thể cứu Uyển cốt
(Cứu Pháp Bí Truyền).
. Trúng phong
tay chân ngứa, không cầm được vật: dùng huyệt Thân mạch, Nhu hội, Uyển cốt, Hợp
cốc, Hành gian, Phong thị, Dương lăng tuyền (Châm Cứu Đại Toàn).
. Dùng phép
châm tỉnh não, khai khiếu trị 50 ca trúng phong cấp. Dùng các huyệt chính: Nội
quan, Nhân trung, Tam âm giao. Phối hợp với Cực tuyền, Xihs trạch, Ủy trung,
Phong trì, Hoàn cốt, Thiên trụ. Nuốt khó, không nói được thêm Ế phong, Thượng
tinh, Thượng liêm tuyền. Ngón tay, ngón chân co duỗi khó: thêm Hợp cốc, Thái
xung. Kết quả, cơ bản khỏi 21 ca, có hiệu quả ít 12, chuyển biến tốt 13, không
hiệu quả và chết 4. Đạt tỉ lệ 92% (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1989, 9 (11).
+ Châm trị 251
ca di chứng ‘Não Thốt Trúng’:
. Chi trên:
Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Ngoại quan.
. Chi dưới:
Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tuyệt cốt, Côn lôn.
. Mắt lệch,
miệng méo: Phong trì, Giáp xa, Địa thương, Nhân trung, Ngoại quan.
. Khó nói:
Liêm tuyền.
,. Huyết áp
cao: Thái xung, Dũng tuyền.
. Lưng không
có sức: Thận du, Túc tam lý.
Mỗi lần chọn
3~5 huyệt, châm đắc khí thì kích thích mạnh.
Kết quả: cơ
bản khỏi: 35,5%, hiệu quả ít 29,1% (Vương Ý Cương, Châm Cứu Trị Liệu Não Thốt
Trúng Hậu Di Chứng 251 Liệt Lâm Sàng, Trung Quốc Châm Cứu 1987, 7 (6): 18).
Một Số Bài Thuốc Kết Quả Tốt
+
Hóa Đờm Thông Phủ Ẩm (Danh Y trị Nghiệm Lương Phương): Toàn qua lâu 30~40g, Đởm
nam tinh 6~10g, Đại hoàng (sống, cho vào sau) 10~15g, Mang tiêu (hòa vào nước
thuốc uống) 10~15g. Sắc uống.
TD: Hóa đờm
thông phủ. Trị trúng phong kèm tiêu khó, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền Hoạt.đã
trị 158 ca. Trị nửa tháng đến 1 tháng. Kết quả: khỏi 39, hiệu quả ít 42, không
kết quả 28. Đạt tỉ lệ 82,3%.
+
Hồng Long Căn Thang (Vân Nam Trung Y Tạp Chí 1982, 5): Hồng hoa 15~25g (cho vào
sau), Địa long 25~40g, Cát căn 30~50g. Sắc uống ấm, lúc đói. Mỗi ngày một thang,
10 ngày là một liệu trình, nghỉ 3~5 ngày rồi lại tiếp tục.
TD: Hoạt
huyết, hóa ứ, sưu phong, thông lạc. Trị trúng phong liệt nửa người, nghẽn mạch
máu não, lưỡi cứng, nói khó, liệt mặt.
Đã trị 86 ca,
khỏi 44, hiệu quả ít 26, có chuyển biến tốt 10, không kết quả 6. Đạt tỉ lệ
93,1%. Điều trị 20~80 ngày, trung bình 54 ngày.
+
Trấn Can Khoát Đờm Thang (Tân trung Y 1986, 1):Thạch quyết minh, Kê huyết đằng
đều 30g, Ngưu tất, Đan sâm đều 15g, Thiên ma, Giáng hương (cho vào sau), Xích
thược, Viễn chí (chích), Thiên trúc hoàng, Uất kim đều 10g, Thạch xương bồ 6g.
Sắc uống.
TD: Trấn Can
tức phong, Khoát đờm khai khiếu, hóa đờm thông lạc. Trị bệnh ở mạch máu não, tắc
mạch máu não, xuất huyết dưới màng nhện.
Đã trị 70 ca,
khỏi 38, có chuyển biến tốt 26, chết 6 (xuất huyết não 3, Tắc mạch máu não 3).
Đạt tỉ lệ 91,4%.
+
Khứ Ứ Thông Mạch Thang (Tân Trung Y 1986, 1): Hoàng kỳ 30~50g, Quế chi, Đương
quy, Địa long, Ngưu tất, Kê huyết đằng đều 15~30g, Xuyên khung, Đan sâm, Đào
nhân 10~15g, Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang. Phối hợp châm các huyệt Kiên
tỉnh, Khúc trì, Ngoại quan, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý. Châm ngày
1 lần.
TD: Ích khí,
hoạt huyết, khứ ứ, thông mạch. Trị di chứng trúng phong – tai biến mạch máu não
(toàn thân hoặc liệt nửa người).
Đã trị 126 ca,
khỏi 100%. Trong đó, khỏi hẳn 54, có kết quả ít 40, chuyển biến tốt 34. thời
gian điều trị: ít nhất 5 ngày, nhiều nhất 1 năm.
(Bài này lấy
từ bài Hoàng Kỳ Ngũ Vật Thang (Kim Quỹ Yếu Lược) và bài Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang
(Y Lâm Cải Thác). Bệnh này do khí hư, huyết ngưng, ứ trở ở huyết mạch, cân mạch
không được nuôi dưỡng gây nên, vì vậy, dùng Hoàng kỳ để bổ khí, Quế chi ôn thông
kinh mạch; Xuyên khung hoạt huyết, hành khí; Ngưu tất thông kinh, tán hàn, giáng
huyết áp; Đào nhân phá huyết, hành ứ; Đương quy bổ huyết, hòa huyết, điều kinh,
khứ ứ; Địa long thông kinh lạc, tức phong, giáng áp; Kê huyết đằng hoạt huyết,
bổ huyết, thông lạc; Đan sâm hoạt huyết, thông ứ; Cam thảo điều hòa các vị
thuốc).
+
Khổ Tân Hàn Giáng Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Bối mẫu 10g, Câu
đằng16, Hàn thủy thạch 30g, Hoạt thạch 50g, Linh dương giác 6g, Mẫu lệ 4g, Tật
lê 20g, Thạch cao 30g, Thạch quyết minh 30g, Trần bì 20g, Từ thạch 30g. Sắc,
cho thêm 40ml Trúc lịch, ít nước Gừng, uống.
TD: Tiềm
dương, tức phong, trừ đờm, khai khiếu. Trị phong hỏa hợp với đờm làm ứ tắc thanh
khiếu, tuần hoàn não bị rối loạn, tai biến mạch máu não.
+
Hoạt Lạc Tiêu Ứ Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Bạch thược 30g, Bồ
hoàng (sống) 9g, Cam thảo 3g, Chỉ xác 12g, Đan sâm 15g, Đương quy
9g,Hổ phách 9g, Một dược 3g, Nhũ hương 3g, Sài hồ 9g, Sinh địa 18g, Xích
thược 30g, Xương bồ 9g, Xuyên khung 9g. Sắc uống.
TD: Hoạt
huyết, hóa ứ, thông khiếu, an thần. Trị phong trúng kinh lạc, huyết mạch bị ứ
trở, mạch máu não bị nghẽn.
Dùng bài Hoạt
Lạc Tiêu Ứ Thang cùng với Thất Ly Tán cũng có hiệu quả khá tốt đối với di chứng
chấn thương sọ não cũng như đối với các trường hợp do ứ trở mạch lạc mà thần
không giữ được sinh ra mất ngủ (Thiên Gia Diệu Phương).
+
Tán Phong Thông Lạc Phương (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn): Hy thiêm
thảo 15g, Lão nga thảo, Ngưu tất, Tần cửu, Đan sâm đều 12g, Tang chi 20g, Hải
phong đằng, Xích thược, Địa miết trùng, Cương tằm, Địa long, Mộc qua đều 10g.
Sắc uống liên tục 2 tháng. Sau đó cách ngày uống 1 thang.
TD: Tán phong,
thông lạc. Trị bệnh mạch máu não.
Đã trị 18 ca,
khỏi hoàn toàn 100%, trong đó kết quả ít 12, có kết quả 6.
+
Quách Thị Não Xuất Huyết Phương (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn): Câu
đằng, Trân châu mẫu, Thạch quyết minh, Ngưu tất đều 30g, Thiên trúc hoàng, Thạch
xương bồ đều 15~30g, Uất kim, Trần bì, Bán hạ, Trúc lịch, Cúc hoa, Cam thảo đều
10g. Sắc uống. 30 ngày là 1 liệu trình.
TD: Phương
hương khai khiếu, bình Can tức phong, địch đờm, tiềm dương, trấn nghịch. Trị
trúng phong xuất huyết (não dật huyết).
Đã trị 31 ca,
khỏi 100%. Trong đó khỏi hoàn toàn 11, kết quả ít 15, có kết quả 5.
+
Não Huyết Quản Thang (Sơn Tây Trung Y Tạp Chí 1989, 3):Long cốt (sống), Mẫu lệ
(sống), Đại giả thạch (sống) đều 30g, Ngưu tất, Tục đoạn, Hồng hoa, Xích thược,
Nhũ hương, Một dược đều 10g, Tang ký sinh, Đan sâm đều 30g, Xuyên khung 6g. Sắc
uống, 10 ngày là 1 liệu trình.
TD: Tiềm
giáng, hoạt huyết, khứ ứ, thông mạch. Trị bệnh mạch máu não.
Đã trị 54 ca,
khỏi 41, kết quả ít 9, có kết quả 3, không kết quả 1. Đạt tỉ lệ 98,15%.
+
Hoàng Kỳ Nhất Tam Thang (Hắc Long Giang Trung Y Dược 1986, 5): Hoàng kỳ 100g,
Đảng sâm 30g, Thục địa 25g, Sơn thù nhục, Nhục thung dung, Thỏ ty tử, Xích
thược, Đương quy, Địa long, Đào nhân đều 15g, Xuyên khung, Hồng hoa đều 10g.
TD: Ích khí,
tư âm, hoạt huyết, thông lạc. Trị di chứng trung phong (di chứng tai biến mạch
máu não).
Trị 100 ca,
đều khỏi 100%. Trong đó khỏi hoàn toàn 47%, hiệu quả ít 42, có chuyển biến tốt
11.
+ Tam Đằng Ngũ
Trùng Thang (Sơn Tây Trung Y 1988, 6): Thủy điệt, Mộc hương, Ô tiêu xà 9g, Kê
huyết đằng 25g, Thổ nguyên 10g, Xú trùng 3g, Địa long 12g, Đan sâm, Nhẫn đông
đằng, Câu đằng đều 15g, Hoàng kỳ 50g.
TD: Ích khí,
hoạt huyết, khứ ứ, thông lạc, bình can tức phong. Trị di chứng trúng phong (tai
biến mạch máu não).
Đã trị 117 ca.
Kết quả khỏi 63, bớt nhẹ 34, kết quả ít 13, chuyển biến tốt, không kết quả 4.
Đạt tỉ lệ 96,6%.
+
Thông Lạc Hoạt Huyết Thang (Trung Y Tạp Chí 1986, 4): Đương quy vĩ, Nhũ hương,
Một dược, Đào nhân, Cam thảo đều 10g, Kê huyết đằng 30g, Đan sâm 20g, Hồng hoa
15g. Sắc uống.
TD: Hoạt
huyết, thông lạc. Trị trúng phong.
Kinh nghiệm
hơn 40 năm dùng bài này thấy có kết quả tốt.
Đề Phòng
Trúng Phong
Sách ‘Vệ Sinh
Bảo Giám’ viết: “Phàm người nào thấy ngón tay cái và ngón trỏ tê dại không biết
đau, ngứa hoặc tay chân không cử động được hoặc trong da thịt có cảm giác như
kiến bò thì trong vòng 3 năm sẽ bị trúng phong nặng”.
Những người
tuổi từ 50 trở lên, nên thường xuyên kiểm tra huyết áp. Nếu thấy có những dấu
hiệu mặt phừng nóng, đau đầu, giật giật hai bên gân gáy, cần chú ý đề phòng tai
biến mạch máu não có thể xẩy ra.
|