|
| |
TĨNH MẠCH VIÊM
TẮC
(Huyết Thuyên
Tính Tĩnh Mạch Viêm – Huyết Thuyên Bế Tắc Tĩnh Mạch Viêm)
Đại Cương
Là trạng thái
một phần tĩnh mạch, thường ở phần nông bị viêm tắc, nổi lên, có mầu đỏ, hình
dạng giống như con giun bò, cứng, đau.
Cũng gọi là ‘Ác
Mạch’, ‘Ác Mạch Bệnh’, ‘Xích Mạch Bệnh’, ‘Thanh Xà Tiên’, ‘Thanh Độc Xà’, ‘Hoàng
Thu Ung’.
Thường gặp ở
tuổi thanh niên, tráng niên, nam nữ đều bị nhưng nữ bị nhiều hơn, thường nổi ở
tay chân, bắp chân nhiều hơn.
Nguyên Nhân
Sách ‘Lưu Quyên
Tử Quỷ Di Phương’ viết: “Chứng Thanh xà tiên sinh ở dưới bụng chân, kết thành
khối, dài 2-3 thốn, phát nóng lạnh, ăn uống không được, thuộc về kinh túc Thiếu
dương và túc Thái dương. Do Thận kinh bị hư tổn, thấp nhiệt dồn xuống phía dưới
gây nên. Đầu (của khối tĩnh mạch tắc) hướng về phía trên thì khó trị, đầu hướng
xuống phía dưới, châm cho máu xấu ra. Nơi người già yếu, nếu thấy nôn mửa,, bụng
trướng, thần trí hôn mê, mạch táo thì sẽ chết”.
Sách ‘Chư Bệnh
Nguyên Hậu Luận’ viết: “Do mùa xuân, mùa đông cảm phải ác phong, nhập vào kinh
lạc mạch, khiến cho huyết ứ kết lại gây nên bệnh”.
Sách ‘Thiên Kim
Phương’ viết: “Có bệnh về mạch, phía trên cơ thể tự nhiên có mạch lạc dẫn đến
tai ù, giống như hình dạng con giun bị chết. Mùa xuân có dạng giống như nước ở
bên trong mạch, dài ngắn ở các mạch. Do mùa xuân, mùa đông bị ác phong nhập vào
lạc mạch, huyết bị ứ lại sinh ra. Dùng bài ‘Ngũ Hương Liên Kiều Thang và Trúc
Lịch để trị. Châm cho ra máu, dùng Đan Sâm Cao đắp bên ngoài”.
Sách ‘Chứng Trị
Chuẩn Thằng, mục Dương Y’ viết: “Chứng Thanh xà tiên, tức Thanh xà ung ở phía
trên bắp chân, có hình giống con rắn, loại to thì có đầu, loại nhỏ thì có đuôi,
lúc mới phát không có mồ hôi”.
Sách ‘Ngoại
Khoa Đại Thành’ và sách ‘Y Tông Kim Giám’ gọi là Thanh độc xà.
Nguyên Nhân
+ Thấp Nhiệt
Uẩn Kết: ăn uống không điều độ, thích ăn thức cao lương mỹ vị (chất béo), cay
nóng khiến cho Tỳ Vị mất chức năng kiện vận, thủy thấp không được vận chuyển đi,
uất lại lâu ngày hóa thành nhiệt, thành hỏa độc, thấp nhiệt dồn xuống mạch gây
nên bệnh.
+ Hàn Thấp
Ngưng Trệ: nhiễm hàn thấp lâu ngày, cảm hàn thấp, ngưng trệ ở kinh mạch. Thấp tà
là loại dính, béo, bẩn; Hàn có tính ngưng trệ, làm tổn thương phần dưới cơ thể,
tổn thương dương khí khiến cho khí huyết ở chân bị ngưng trệ gây nên bệnh.
+ Can Khí Uất
Kết: Tình chí uất ức, giận dữ làm hại Can, Can mất chức năng điều giáng, sơ tiết
không thông, khí uất lâu ngày làm cho khí huyết và mạch lạc không thông, huyết ứ
đình tụ lại gây nên bệnh.
+ Tỳ Mất Chức
Năng Kiện Vận: bệnh lâu ngày, đứng lâu hoặc đi bộ nhiều, làm việc mệt nhọc quá
làm cho Tỳ khí hao kiệt. Tỳ chủ tứ chi, chủ thống huyết. Nếu Tỳ không thống được
huyết, huyết ứ ở lạc mạch hoặc vì Tỳ hư sinh ra đờm thấp ngưng trở ở lạc mạch
gây nên bệnh.
+ Huyết Mạch Bị
Chấn Thương: Do té ngã, chấn thương, đao kiếm chém... làm cho lạc mạch bị tổn
hại hoặc bị nhiễm độc hoặc do huyết bị ứ, tích tụ lại không tan đi, uất lâu ngày
hóa nhiệt gây nên bệnh.
Biện Chứng Trị Liệu
Bệnh chủ yếu do
thấp nhiệt uẩn kết, hàn thấp ngưng trệ, huyết ứ, Tỳ mất chức năng kiện vận, Can
uất.
Điều trị phải
hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt, lợi thấp, ôn dương hóa trệ, kiện Tỳ ích khí, thư
Can giải uất.
Triệu Chứng
+ Thấp Nhiệt
Uẩn Kết: Chân nặng, tức, sốt, da vùng bệnh đỏ, đau, thích lạnh, sợ nóng hoặc có
những khúc ngoằn nghèo, phiền muộn, khát, không muốn ăn, nước tiểu ít, đỏ, lưỡi
đỏ xậm, rêu lưỡi vàng bệu mạch Hoạt Sác hoặc Hồng Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt, lợi
thấp, giải độc, thông kết.
- Sách ‘Trung Y
Cương Mục’ Dùng bài Tỳ Giải Thấm Thấp Thang gia giảm: Tỳ giải, Ý dĩ, Hoàng bá,
Xích phục linh, Đan bì, Trạch tả, Hoạt thạch, Thông thảo.
(Tỳ giải, Ý dĩ,
Xích phục linh, Trạch tả thấm thấp, lợi thủy; Hoàng bá thanh thấp nhiệt ở hạ
tiêu; Hoạt thạch, Thông thảo thanh nhiệt, lợi thủy, làm cho thấp nhiệt độc thoát
ra qua đường tiểu).
Gia giảm: Nhiệt nhiều thêm
Kim ngân hoa, Liên kiều; Đau nhức nhiều thêm Đào nhân, Hồng hoa, Nguyên hồ.
Đắp ngoài: Kim
Hoàng Cao.
- Sách ‘Bì Phu
Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Nhân Trần Xích Đậu Thang gia giảm: Nhân
trần 24g, Xích tiểu đậu 18g, Ý dĩ nhân 30g, Khổ sâm 12g, Thương truật, Hoàng bá,
Phòng kỷ, Trạch tả, Bội lan, Bạch đậu khấu đều 9g, Địa đinh, Bồ công anh đều
15g, Cam thảo 3g. Sắc uống.
+ Hàn Thấp
Ngưng Trệ: Chân nặng, ấn vào lõm sâu xuống, sáng nhẹ, chiều nặng, sợ lạnh, sắc
da không tươi nhuận, bắp chân đau, khó co duỗi, chân nặng, không có sức, ngại
đi, ăn uống kém, lưỡi trắng bệu, mạch Tế Nhu hoặc Trầm Tế.
Điều trị: Ôn
dương, hóa trệ, lợi thấp, thông kết.
- Sách ‘Trung Y
Cương Mục’ dùng bài Thực Tỳ Ẩm gia giảm: Bạch truật, Phục linh, Mộc qua, Hậu
phác, Thảo đậu khấu, Đại phúc bì, Mộc hương, Phụ tử (chế), Can khương, Cam thảo,
Sinh khương, Đại táo.
(Phụ tử, Can
khương ôn dưỡng Tỳ Thận, phù dương ức âm; Bạch truật, Cam thảo kiện Tỳ, hòa
trung; Thảo đậu khấu hóa thấp trọc ở Tỳ Thận; Đại phúc bì, Phục linh lợi thấp,
hành thủy; Mộc qua tỉnh Tỳ, hòa Vị, sơ Can, ức mộc; Hậu phác, Mộc hương lý khí,
khoan trung. Khí hành thì thủy sẽ hành; Sinh khương, Ddaij táo ích Tỳ, hòa
trung).
Thuốc
Đắp: Hồi Dương Ngọc Long Cao.
- Sách ‘Bì Phu
Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Đương Quy Tứ Nghịch Thang gia giảm: Đương
quy, Xích thược, Ngưu tất, Trạch lan diệp đều 30g, Quế chi 9g, Tế tân, Mộc
thông, Chích cam thảo đều 6g. Sắc uống.
Hoặc dùng Hoạt
Huyết Chỉ Thống Tán: Thấu cốt thảo, Huyền hồ sách, Quy vĩ, Khương hoàng phiến,
Xuyên tiêu, Hải đồng bì, Uy linh tiên, Ngưu tất, Nhũ hương, Một dược, Khương
hoạt, Bạch chỉ, Tô mộc, Ngũ gia bì, Hồng hoa, Thổ phục linh đều 9g. Sắc sôi,
xông và chườm vùng bệnh, ngày 1-2 lần, mỗi lần 30-60 phút.
+ Huyết Ứ: Da
bên ngoài đau, nặng, tức, sắc da đỏ tím, cử động thì đau, vùng bắp chân đau hoặc
có những vết ngoằn nghèo, ấn nhẹ vào thấy căng cứng, lưỡi có những vết ban tím,
mạch Trầm Tế hoặc Trầm Sáp.
Điều trị: Hoạt huyết hóa ứ,
hành khí tán kết.
- Sách ‘Trung Y Cương Mục’
dùng bài Để Đương Thang gia giảm: Thủy điệt, Mang trùng (bỏ cánh, chân, sao),
Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn), Đại hoàng (tẩy rượu).
(Thủy điệt trục
huyết ứ xấu ra, phá trưng hà, tích tụ, có tác dụng phá ứ huyết cũ, sinh huyết
mới, chuyển vào phần huyết mà không làm tổn thương khí; Mang trùng trục ứ tích,
phá kết, tăng cường tác dụng của Thủy điệt. Nếu uống vào mà bị tiêu chảy thì
ngưng thuốc lại. Phối hợp với Đại hoàng để quét sạch nhiệt, dẫn máu ứ đi xuống;
Đào nhân phá huyết, hành ứ).
Thuốc
đắp: Xung Hòa Cao.
- Sách ‘Bì Phu
Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Hoạt Huyết Thông Mạch Thang gia giảm: Đương
quy, Đan sâm, Ngân hoa đều 30g, Xích thược, Đào nhân, Ngưu tất, Nhũ hương, Một
dược, Xuyên sơn giáp, Huyền hồ sách đều 9g, Kê huyết đằng 15g. Sắc uống.
Hoặc dùng Thanh
Doanh Giải Ứ Thang: Ích mẫu thảo 60-100g, Tử thảo, Xích thược, Đan bì đều 15g,
Tử hoa địa đinh, Cam thảo (sống) đều 30g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn
Liệu Học).
Hoặc dùng Hoạt
Huyết Trục Ứ Thang: Đương quy 18g, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Quế chi,
Phòng kỷ đều 9g, Đan sâm 15g, Hoàng kỳ (sống) 30g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Trung Y
Chẩn Liệu Học).
Hoặc dùng Hoạt
Huyết Khứ Ứ Phiến: Lưu ký nô 45g, Đương quy, Xích thược, Khương hoạt đều 30g,
Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp, Thổ nguyên đều 24g, Công đinh hương, Đại
hoàng (sống) đều 15g, Vô danh dị (chế) 60g, Mộc hương 18g,. Tán nhuyễn, chế
thành phiến, mỗi phiến 0,3g. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 phiến (Bì Phu Bệnh
Trung Y Chẩn Liệu Học).
+ Tỳ Mất Chức
Năng Kiện Vận: Da vùng bệnh sưng tức, ấn vào lõm, sắc da hơi trắng hoặc xanh
úa, chân nặng, không có sức, vùng bụng trên khó chịu, sắc mặt vàng úa, duỗi chân
khó, chân lạnh, tiêu lỏng, lưỡi trắng nhạt, rêu lưỡi trắng hoặc hoạt bệu, mạch
Trầm Hoãn.
Điều trị: Phù Tỳ kiện Vị,
ích khí dưỡng huyết.
- Sách ‘Trung Y
Cương Mục’ dùng bài Phòng Kỷ Hoàng Kỳ Thang gia giảm: Phòng kỷ, Hoàng kỳ (sống),
Bạch truật, Cam thảo (chích), Sinhh khương, Đại táo. Sắc uống.
(Phòng kỷ khứ
phong, chỉ thống, lợi thủy, thoái thủng; Hoàng kỳ bổ ích trung khí, lợi thủy,
tiêu thủng làm chủ dược; Bạch truật, Cam thảo kiện Tỳ, hòa trung; Sinh khương,
Đại táo điều hòa vinh vệ, giúp cho Hoàng kỳ và Phòng kỷ tăng tác dụng bổ khí
hành thủy, thoái thủng).
Thuốc
đắp: Xung Hòa Cao.
- Sách ‘Bì Phu
Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm: Đảng
sâm, Bạch truật, Phục linh, Hoàng kỳ, Mộc hương đều 10g, Đan sâm, Nhẫn đông
đằng, Hoạt huyết đằng đều 15g, Trần bì, Sa nhân (cho vào sau) đều 6g, Hà thủ ô,
Đương quy đều 12g. Sắc uống.
+ Can Uất: Vùng
ngực, bụng, hông sườn có những mạch máu bế tắc không nhất định, đau như kim đâm,
đau tức hoặc đột nhiên bị đau, thường bị phiền muộn, thở dài, có biểu hiện của
Can uất, rêu lưỡi trắng nhạt, lưỡi đỏ sậm hoặc có vết ban tím, mạch Huyền hoặc
Huyền Sáp.
Điều trị: Thanh
Can, giải uất, hoạt huyết, giải độc.
- Sách ‘Trung Y
Cương Mục’ dùng bài Phục Nguyên Hoạt Huyết Thang gia giảm: Sài hồ, Đương quy,
Thiên hoa phấn, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp, Đại hoàng, Cam thảo. Sắc
uống với rượu.
(Sài hồ sơ Can,
lý khí; Đương quy dưỡng huyết, hoạt huyết làm chủ dược; Hỗ trợ có Xuyên sơn giáp
để phá ứ, thông lạc; Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết khứ ứ; Đại hoàng khứ trừ
huyết ứ, quét sạch uất nhiệt, hỗ trợ cho tác dụng hoạt huyết khứ ứ của các vị
thuốc trên; Thiên hoa phấn thanh nhiệt, tiêu thủng; Cam thảo hoãn cấp chỉ thống,
điều hòa các vị thuốc. Hợp với thuốc đắp có tác dụng trừ máu xấu, sinh máu mới,
khí thông, huyết hành thì chứng hông sườn ứ sẽ tự khỏi).
Thuốc
đắp: Xung Hòa Cao.
- Sách ‘Bì Phu
Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Sài Hồ Thanh Can Thang gia giảm: Sài hồ,
Hoàng cầm, Tiêu sơn chi, Cam thảo đều 6g, Xích thược, Đương quy, Liên kiều,
Thiên hoa phấn đều 10g, Tam thất phấn 4,5g (cho vào uống), Kê huyết đằng, Nhẫn
đông đằng đều 30g, Ty qua lạc 3g. Sắc uống.
Tham Khảo:
+ Tân Mạch Quản
Viêm Hoàn (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học). Trạch lan 60g, Xuyên khung, Hồng
hoa đều 15g, Đương quy, Ngưu tất, Mộc qua đều 30g, Anh túc xác 9g. Tán bột, trộn
với mật làm thành hoàn 9g, Ngày uống 2 hoàn vào buổi sáng, tối.
+ Hoạt Huyết
Khứ Ứ Phiến (Trung Y Cương Mục): Lưu ký nô 45g, Đương quy, Xích thược, Khương
hoạt, đều 30g, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp (châu), Thổ nguyên đều 24g,
Công đinh hương, Sinh xuyên quân đều 15g, Chế thành không quá 60 viên. Mộc hương
18g. Nghiền nát. Chế lại thành phiến, mỗi phiến 0,3g. Mỗi lần uống 10 phiến,
ngày 3 lần.
+ Dùng bài
Đương Quy Hoạt Huyết Thang gia vị trị 30 ca viêm tắc tĩnh mạch chân. Trong đó
nam 22, nữ 8, tuổi từ 25-40 là 7 người, 41 tuổi trở lên là 23 người. Nhỏ tuổi
nhất là 20, lớn tuổi nhất là 71. Nguyên nhân: do ngoại thương 9 người, bệnh
truyền nhiễm 8, sau khi sinh 1, nguyên nhân không rõ: 11. Chứng trạng lâm sàng:
bị ở bắp chân bên phải: 19, bắp chân bên trái 11. Bắp chân sưng 2cm có 14 ca,
còn lại thì sưng 3,7cm, 4,7cm, 5,1cm, 7,1cm. Bắp chân sưng ít (+) 12 ca, sưng to
18 ca. Gót chân sưng ít 21 ca, sưng to 9 ca. Bắp chân ấn nhẹ vào đã đau 19, ấn
mạnh mới đau 11. Thời gian phát bệnh: ngắn nhất là 4 ngày, đa số hơn nửa năm.
Điều trị: dùng
bài Đương Quy Hoạt Huyết Thang: Đương quy, Đan sâm, Hồng hoa đều 30g, Xích thược
50g, Ngưu tất, Địa long đều 20g, Xích thược 50g, Xuyên sơn giáp (nướng) 15g,
Vương bất lưu hành 40g. Sắc uống.
Gia giảm: Do
ngoại thương làm ứ huyết sưng đau thêm Tô Mộc, Đào nhân; Thấp nhiệt thêm Hoàng
bá,
Thương truật, Ý dĩ, Trạch tả, Tỳ giải; Co rút thêm Mẫu lệ, Toàn trùng, Ngô
công; Khí hư thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh.
Thuốc đắp
ngoài: Mang tiêu 100g, Độc hoạt 30g, Thấu cốt thảo 40g, Ngải diệp 30g. Sắc lấy
nước, thấm vào khăn, đắp ngày 2 lần.
Kết quả: Trong
30 ca, khỏi 19, đạt 63,3%, có hiệu quả 9, đạt 30%, Có chuyển biến tốt 2, đạt
6,6%. Thời gian trị khỏi: ít nhất là 1 tháng, nhiều nhất là 4 tháng. Khỏi trong
vòng 3 tháng: 18 ca.
CHÂM CỨU
+ Dựa theo
đường kinh, chọn Cách du, Thái uyên. Hợp với: Chi trên Hợp cốc, Khúc trì. Cẳng
tay chọn Nội quan, Khúc trạch. Chi dưới: mặt trong chân chọn Âm lăng tuyền, Tam
âm giao. Vùng hông ngực bụng chọn Nội quan, Dương lăng tuyền.
Châm bình bổ
bình tả. Lưu kim 30 phút. 2-3 ngày châm một lần.
. Cục bộ chọn:
A thị huyệt. Hợp với Hợp cốc, Nội quan, Thủ tam lý, Khúc trì (Chi trên). Túc tam
lý, Âm lăng tuyền, Tam âm giao (Chi dưới).
Châm bình bổ
bình tả. Lưu kim 30 phút. Mỗi ngày châm một lần (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu
Học).
+ Hàn Thấp Trở
Kết: Tán hàn, khứ thấp, thông lạc, chỉ thống. Châm Xung dương, Túc tam lý, Ngoại
quan, Tam âm giao, Huyết hải, Mệnh môn.
+ Huyết Mạch Ứ
Trở: Hoạt huyết hóa ứ, ôn kinh thông mạch. Châm Huyết hải, Tam âm giao, Dương
lăng tuyền, Ngoại quan, Cách du.
+ Nhiệt Độc
Thương Âm: Thanh nhiệt giải độc, tư âm, thông lạc. Châm Đại chùy, Nội đình, Hợp
cốc, Khúc trì, Chiếu hải.
+ Thấp Nhiệt
Độc Thịnh: Thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thông lạc. Châm Nội đình, Hành gian,
Âm lăng tuyền, Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Khúc trì.
+ Khí Huyết
Lưỡng Hư: Ích khí, dưỡng huyết, thông lạc. Châm Túc tam lý, Trung quản, Tỳ du,
Can du, Thận du.
Châm bình bổ bình
tả. Ngày châm một lần, mỗi lần 20 phút. 10 lần là một liệu trình (Bị Cấp Châm
Cứu).
Cứu:
+ Cách du, Chiên
trung, A thị huyệt. Dùng Ngải điếu ôn cứu 7-15 phút, thấy da ửng đỏ là được. Mỗi
ngày cứu một lần (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).
+ Phục lưu, Thái
khê, Côn lôn, Chiếu hải, Khâu hư, Thân mạch, Trung phong. Dùng ngải điếu cứu ấm
mỗi huyệt 5 phút. Ngày cứu 1 lần, 10 lần là một liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu).
Ghi chú: Bệnh ở giai đoạn 3, 4 không nên dùng phép cứu.
Giác Lể
Lể ra máu rồi giác
các huyệt Ủy trung, Túc lâm khấp. Mỗi ngày làm một lần, mỗi lần 10 phút. 10 lần
là 1 liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu).
Bệnh Án Điển
Hình
Bệnh Án Tĩnh Mạch
Viêm Tắc
(Trích trong ‘Hứa
Phúc Hòa Ngoại Khoa Y Án Y Thoại Tập)
Lâm X, nữ, mới
sinh xong khoảng hơn 20 ngày, chân dưới bị sưng phù, đau, sốt, sợ lạnh. Khoa
ngoại bệnh viện chẩn đoán là viêm tắc tính mạch. Dùng kháng sinh để trị. Nóng
lạnh hơi giảm, phù chưa tiêu, bắp chân đau. Mỗi khi đau thì chân nóng, khát, gầy
ốm, da vàng.chẩn đoán là thấp nhiệt hạ chú, huyết mạch ngưng trệ gây nên chứng
ác mạch (viêm tắc tĩnh mạch). Điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hóa ứ thông lạc.
Dùng Phòng kỷ, Tỳ giải, Trạch lan, Trạch tả, Ngưu tất, Quy vĩ, Liên kiều, Tư
linh đều 10g, Đơn bì 6g, Ngân hoa đằng 15g, Thương truật, Hoàng bá đều 5g, Ý dĩ
nhân 12g. Sắc uống.
Uống xong, chân
cảm thấy dễ chịu hơn. Uống tiếp hai thang, hết đau. Chuyển sang cho uống bài
Cách Hạ Trục Ứ Thang 3 thang, bắp chân không giảm đau, đùi giảm đau, gân xanh
(tĩnh mạch) nổi rõ, nước tiểu vàng, ăn ít, bỏ bài vừa rồi, dùng Thương truật,
Hoàng bá đều 4,5g, Ngưu tất, Xích phục linh, Tỳ giải, Phòng kỷ, Quy vĩ, Trạch
lan, Trạch tả đều 9g, Ý dĩ nhân 30g, Đơn bì, Tần cửu đều 6g (Phương 1). Sau khi
uống thuốc, chứng không muốn ăn giảm, có khi bị tiêu chảy. Cho dùng Thương
truật, Bạch truật, Hoàng bá đều 4,5g, Ý dĩ nhân 12g, Trạch lan, Trạch tả, Phòng
kỷ, Tỳ giải, Trư linh, Quy vĩ, Tiêu tra khúc đều 9g, Ngân hoa đằng 15g, Trần bì
6g (Phương 2). Sau khi uống thuốc, chứng tiêu lỏng cầm ngay, nhưng đùi và bắp
chân căng, cho uống phương thứ nhất. Sau khi uống thuốc ruột bị sôi, lại bị tiêu
lỏng, sợ rằng do vị Tần cửu gây nên nhuận quá vì vậy bỏ Tần cửu. Cho uống 15
thang, phù ở chi dưới cơ bản đã hết, hết bị tiêu chảy, thu nạp thức ăn trở lại
bình thường. Da mặt tươi nhuận tĩnh mạch không còn nổi lên nữa, vùng đùi dưới mé
ngoài hơi còn đau, do huyết lạc chưa thông. Cho uống tiếp bài thuốc trên, sau đó
khỏi bệnh.
|