|
| |
THOÁI VỊ ĐĨA ĐỆM
Thuộc phạm vi
chứng Yêu Thống, Yêu Chuỳ Thống, Yêu Thống Liên Tất.
Nguyên Nhân
. Do chấn
thương.
. Do cảm
phong, hàn, thấp, nhiệt.
. Do tuổi già.
. Do lao động
quá sức.
. Do sinh hoạt
tình dục không điều độ.
. Ảnh hưởng
của bệnh mạn tính.
Ngoại tà như
phong, hàn, thấp, nhiệt bên ngoài xâm nhập vào làm cho kinh mạch ở vùng bị ngăn
trở gây nên đau. Cũng có thể do tuổi già, suy yếu, lao động quá sức, sinh hoạt
tình dục quá mức khiến cho các lạc mạch ở vùng lưng không được nuôi dưỡng, các
đĩa đệm dần dần bị khô, cứng sẽ gây nên đau. Vùng lưng liên hệ đến Thận, nếu
Thận suy yếu sẽ gây nên đau.
Khí và huyết
nếu không vận hành được sẽ khiến cho huyết bị ngưng trệ cũng gây nên đau. Chấn
thương do tẽ ngã… làm cho huyết bị ứ lại, ảnh hưởng đến các kinh mạch, lạc mạch
ở vùng lưng cũng gây nên đau.
Biện Chứng
Luận Trị
+ Thể Hàn
Thấp: Đau ở vùng lưng, có cảm giác nặng ở lưng dưới, hoặc có cảm giác như ngồi
vào chậu nước đá lạnh hoặc như có vật gì nặng đè vào lưng, tay chân lạnh, tay
chana không có sức, ấn vào đau hơn, gặp lạnh hoặc thời tiết âm u thì đau tăng,
chườm ấm nóng thì giảm đau, tiểu nhiều, nước tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu lưỡi
nhờn, mạch Trầm, Tế.
Điều trị: Ôn
kinh, tán hàn, trừ thấp, chỉ thống. Dùng bài Phụ Tử Ma Hoàng Quế Chi Thang gia
vị: Xuyên ô, Phụ tử, Quế chi, Độc hoạt, Cát căn, Can khương đều 9g, Ma hoàng,
cam thảo đều 6g, Tế tân 3g.
(Ma hoàng, Quế
chi, Cát cănTế tân, Độc hoạt khư phong, tán hàn. Ngoài ra, Quế chi, Độc hoạt ôn
kinh, chỉ thống. Độc hoạt trừ phong ở chi dưới, Cát căn giải cơ, đặc biệt ở kinh
Thái dương phần trên lưng. Độc hoạt và Cát căn là hai vị thuốc đặc hiệu để khu
phong, chỉ thống ở vùng lưng. Cát căn thích hợp ở vùng lưng trên còn Độc hoạt
tốt ở vùng lưng dưới. Xuyên oo, Phụ tử, Can khương Tế tân và Quế chi tán hàn,
trừ thấp, chỉ thống. Phụ tử và Tế tân có tác dụng giảm đau mạnh. Cam thảo điều
hoà các vị thuốc, ngăn chận bớt độc tính của Phụ tử.
Thận hư thêm
Tang ký sinh, Tục đoạn đều 9g. Cảm thấy nặng ở vùng lưng dưới thêm Thương truật
9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g. Huyết ứ thêm Xích thược 9g, Nhũ
hương, Một dược đều 9g. Nếu do phong hàn gây đau lan xuống gối hoặc lan qua hông
sườn thêm Khương hoạt và Phòng phong.
Châm Cứu
Nếu nhân đĩa
đệm lồi ra ngoài, châm xiên huyệt Giáp tích, tuỳ theo vị trí tổn thương mà chọn
huyệt ở vùng trên dưới chỗ đó. Dùng phép châm tả và cứu.
Nếu nhân đĩa
đệm tụt vào, đè vào dây thần kinh, châm huyệt Giáp tích đối diện với bên đau của
chỗ thoái vị. Dùng phương pháp châm tả và cứu.
Thêm Giáp tích
gần vùng đau như Mệnh môn, Yêu dương quan, Huyền xu, Tam tiêu du, Thận du, Khí
hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, A thị huyệt. Châm tả và cứu.
Nếu đau dọc
theo đường kinh Bàng quang, thêm Uỷ trung hoặc Côn lôn. Đau giữa cột sống them
Trường cường, Nhân trung hoặc Hậu khê. Đau cả hai bên và ở giữa: thêm Thân mạch,
Hậu khê. Đau vùng mông, thêm Trật biên, Hoàn khiêu. Đau lạnh vùng lưng dưới,
mông và chân: cứu Trật biên, Thừa phò, Thừa sơn. Đau quanh mặt ngang đùi thêm
Phong thị. Đau mặt sau đùi, thêm Ân môn. Đau mặt ngoài cẳng chân, thêm Dương
lăng tuyền, Huyền chung. Đau bắp chân thêm Thừa sơn. Chân lạnh, cứu Mệnh môn.
Lưng và chân không có sức, thêm Phục lưu. Rối loạn tiêu hoá thêm Công tôn. Lưng
và háng đau thêm Bạch hoàn du, Cư liêu. Đau vùng xương cùng thêm Âm bao, Cư liêu
hoặc Bát liêu.
+
Thể Phong Thấp: lưng đau trên dưới không nhất định nhưng thay đổi. Vùng lưng đau
thường kèm nặng và chuyển xuống dưới các ngón chân, kèm mất cảm giác, thay đổi
theo thời tiết, sợ gió, sợ lạnh, cơ thể nặng nề, lưỡi trắng nhạt, rêu lưỡi vàng,
mạch Phù, Tế, Huyền.
Điều trị: khu
phong, hoá thấp, thông kinh hoạt lạc. Dùng bài Độc Hoạt Ký Sinh Thang: Tang ký
sinh 18g, Thục địa 15, Đương quy, Đảng sâm, Phục linh, Tần giao, Đỗ trọng đều
12g, Độc hoạt, Phòng phong, Xuyên khung, Bạch thược, Ngưu tất đều 9g, Tế tân,
Nhục quế, Cam thảo đều 3g.
(Tang ký sinh,
Độc hoạt, Tần giao, Phong phong, Tế tân và Xuyên khung khu phong, hoá thấp,
thông kinh, hoạt lạc; Tang ký sinh, Thục địa, Ngưu tất tư bổ Can Thận, làm mạnh
gân xương; Thục địa, Đương quy, Bạch thược dưỡng Can huyết, mạnh gân; Đỗ trọng
bổ Thận, bổ gân xương; Nhục quế ôn kinh, thông kinh lạc; Đảng sâm, Phục linh,
Chích thảo bổ cho hậu thiên để thu nhận và nuôi dưỡng tinh khí tiên thiên. Độc
hoạt chuyên trị bệnh ở chi dưới, còn Ngưu tất dẫn thuốc xuống chi dưới; Tế tân
giảm đau rất hay; Bạch thược thư cân; Đỗ trọng là thuốc đặc hiệu để trị bệnh ở
lưng).
Có cảm giác
nặng, thêm Thương truật, Uy linh tiên đều 9g; Cử động khó khăn thêm Lạc thạch
đằng, Hải phong đằng đều 9g; Thận hư nạng thêm Câu kỷ, Tục đoạn đều 9g; Tỳ hư
thêm Bạch truật 12g; Huyết ứ thêm Xích thược 9g, Nhũ hương, Một dược đều 6g.
Châm Cứu
Nếu nhân đĩa
đệm lồi ra ngoài, châm xiên huyệt Giáp tích, tuỳ theo vị trí tổn thương mà chọn
huyệt ở vùng trên dưới chỗ đó. Dùng phép châm tả và cứu.
Nếu nhân đĩa
đệm tụt vào, đè vào dây thần kinh, châm huyệt Giáp tích đối diện với bên đau của
chỗ thoái vị. Dùng phương pháp châm tả và cứu.
Thêm Giáp tích
gần vùng đau như Mệnh môn, Yêu dương quan, Huyền xu, Tam tiêu du, Thận du, Khí
hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, A thị huyệt. Châm tả và cứu.
Nếu đau dọc
theo đường kinh Bàng quang, thêm Uỷ trung hoặc Côn lôn. Đau giữa cột sống them
Trường cường, Nhân trung hoặc Hậu khê. Đau cả hai bên và ở giữa: thêm Thân mạch,
Hậu khê. Đau vùng mông, thêm Trật biên, Hoàn khiêu. Đau lạnh vùng lưng dưới,
mông và chân: cứu Trật biên, Thừa phò, Thừa sơn. Đau quanh mặt ngang đùi thêm
Phong thị. Đau mặt sau đùi, thêm Ân môn. Đau mặt ngoài cẳng chân, thêm Dương
lăng tuyền, Huyền chung. Đau bắp chân thêm Thừa sơn. Chân lạnh, cứu Mệnh môn.
Lưng và chân không có sức, thêm Phục lưu. Rối loạn tiêu hoá thêm Công tôn. Lưng
và háng đau thêm Bạch hoàn du, Cư liêu. Đau vùng xương cùng thêm Âm bao, Cư liêu
hoặc Bát liêu.
+
Thể Thấp Nhiệt: Thắt lưng luôn đau kèm cảm giác nóng, thắt lưng sưng, nặng,
không thể cuí về phía trước hoặc ngả ra sau được, bứt rứt, ra mồ hôi, khát, tiểu
ít, nước tiểu vàng đậm, tiểu buốt, táo bón, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch Sác, Hoạt
hoặc Nhu Hoạt.
Điều trị:
Thanh nhiệt, hoá thấp, chỉ thống. Dùng bài Tứ Diệu Hoàn Gia Vị: Ý dĩ nhân 30g,
Thương truật, Ngưu tất đều 12g, Hoàng bá, Tần giao đều 9g.
(Thương truật
táo thấp; Hoàng bá cũng táo thấp, thanh nhiệt ở hạ tiêu. Hai vị này phối hợp có
tác dụng thanh nhiệt, táo thấp ở hạ tiêu. Ngưu tất dẫn thuốc đi xuống; Ý dĩ nhân
giúp lợi thấp; Thương truật với Tần giao chỉ thống. Tần giao được coi là thuốc
đặc hiệu đối với cột sống).
Nặng nề vùng
lưng thêm Hán phòng kỷ, Mộc qua đều 9g. Nếu khát, nước tiểu vàng thêm Liên kiều,
Chi tử đều 9g, Mộc thông 3g. Âm hư, họng khô, miệng khô, khó chịu về đêm, thắt
lưng mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, thêm Thục địa 12g, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo đều
9g. Cử động khó khăn thêm Lạc thạch đằng, Hải phong đằng đều 9g. Thận hư nặng,
thêm Câu kỷ, Tục đoạn đều 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g. Huyết ứ
thêm Xích thược 9g, Nhũ hương, Một dược đều 6g.
Châm Cứu
Nếu nhân đĩa
đệm lồi ra ngoài, châm xiên huyệt Giáp tích, tuỳ theo vị trí tổn thương mà chọn
huyệt ở vùng trên dưới chỗ đó. Dùng phép châm tả và cứu.
Nếu nhân đĩa
đệm tụt vào, đè vào dây thần kinh, châm huyệt Giáp tích đối diện với bên đau của
chỗ thoái vị. Dùng phương pháp châm tả và cứu.
Thêm Giáp tích
gần vùng đau như Mệnh môn, Yêu dương quan, Huyền xu, Tam tiêu du, Thận du, Khí
hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, A thị huyệt. Châm tả và cứu.
Nếu đau dọc
theo đường kinh Bàng quang, thêm Uỷ trung hoặc Côn lôn. Đau giữa cột sống them
Trường cường, Nhân trung hoặc Hậu khê. Đau cả hai bên và ở giữa: thêm Thân mạch,
Hậu khê. Đau vùng mông, thêm Trật biên, Hoàn khiêu. Đau lạnh vùng lưng dưới,
mông và chân: cứu Trật biên, Thừa phò, Thừa sơn. Đau quanh mặt ngang đùi thêm
Phong thị. Đau mặt sau đùi, thêm Ân môn. Đau mặt ngoài cẳng chân, thêm Dương
lăng tuyền, Huyền chung. Đau bắp chân thêm Thừa sơn. Chân lạnh, cứu Mệnh môn.
Lưng và chân không có sức, thêm Phục lưu. Rối loạn tiêu hoá thêm Công tôn. Lưng
và háng đau thêm Bạch hoàn du, Cư liêu. Đau vùng xương cùng thêm Âm bao, Cư liêu
hoặc Bát liêu.
Thêm Âm lăng
tuyền, Dương lăng tuyền, Hành gian, Nội đình.
(Âm lăng tuyền
là huyệt đặc hiệu để trừ thấp. Nội đình là huyệt đặc hiệu để thanh nội nhiệt.
Hai huyệt phối hợp có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp toàn thân. Hành gian là hoả
huyệt của đường kinh Can, Dương lăng tuyền là huyệt hợp của kinh Đởm, hai huyệt
này có tác dụng trừ thấp nhiệt, đặc biệt do Mộc gây nên).
+ Thể Thận Hư:
Vùng thắt lưng đau ê ẩm, bước đi làm như không có sức, đứng lâu chân như muốn
khuỵ xuống, khi mệt mỏi thì khó chịu hơn, nằm hoặc nghỉ ngơi, xoa bóp thì dễ
chịu hơn, ngũ tâm phiền nhiệt, sốt về chiều, mồ hôi trộm, họng khô, lưỡi đỏ,
mạch Tế Sác.
Điều trị: Bổ
Thận, tư âm, giáng hoả, thông kinh hoạt lạc. Dùng bài Tả Quy Hoàn gia giảm: Thục
địa, Đỗ trọng đều 12g, Sơn dược, Sơn thù du, Câu kỷ tử, Ngưu tất, Thỏ ty tử,
Tang ký sinh đều 9g, Lộc giác giao, Quy bản giao đều 6g.
(Thục địa, Sơn
dược, Sơn thù bổ Thận âm; Câu kỷ tử, Ngưu tất, Tang ký sinh, Quy bản giao ích
tinh, bổ âm, tráng cốt, làm mạnh lưng; Lộc giác giao, Đỗ trọng, Thỏ ty tử bổ
Thận, tráng dương, mạnh gân xương; Lộc giác giao, Quy bản giao, Thỏ ty tử, Thục
địa, Câu kỷ tử ích tinh, mnạh gân xương; Đỗ trọng là vị thuốc chuyên trị đau
lưng, hợp với Tang ký sinh có tác dụng trị thoái vị; Ngưu tất dẫn thuốc đi
xuống).
Chóng mặt, ù
tai, hồi hộp, mất ngủ thêm Thạch quyết minh 12g, Long cốt, Mẫu lệ. Tâm hư miệng
và họng khô, ra mồ hôi trộm, thêm Hoàng bá, Tri mẫu đều 9g. Cử động khó khăn
thêm Ty qua lạc, Lạc thạch đằng đều 9g. Khí trệ, huyết ứ thêm Nhũ hương, Một
dược đều 6g. Kèm đờm thấp, thêm Tần giao, Khương hoạt đều 12g. Tỳ hư thêm Bạch
truật, Phục linh đều 12g.
Châm cứu
Nếu nhân đĩa
đệm lồi ra ngoài, châm xiên huyệt Giáp tích, tuỳ theo vị trí tổn thương mà chọn
huyệt ở vùng trên dưới chỗ đó. Dùng phép châm tả và cứu.
Nếu nhân đĩa
đệm tụt vào, đè vào dây thần kinh, châm huyệt Giáp tích đối diện với bên đau của
chỗ thoái vị. Dùng phương pháp châm tả và cứu.
Thêm Giáp tích
gần vùng đau như Mệnh môn, Yêu dương quan, Huyền xu, Tam tiêu du, Thận du, Khí
hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, A thị huyệt. Châm tả và cứu.
Nếu đau dọc
theo đường kinh Bàng quang, thêm Uỷ trung hoặc Côn lôn. Đau giữa cột sống them
Trường cường, Nhân trung hoặc Hậu khê. Đau cả hai bên và ở giữa: thêm Thân mạch,
Hậu khê. Đau vùng mông, thêm Trật biên, Hoàn khiêu. Đau lạnh vùng lưng dưới,
mông và chân: cứu Trật biên, Thừa phò, Thừa sơn. Đau quanh mặt ngang đùi thêm
Phong thị. Đau mặt sau đùi, thêm Ân môn. Đau mặt ngoài cẳng chân, thêm Dương
lăng tuyền, Huyền chung. Đau bắp chân thêm Thừa sơn. Chân lạnh, cứu Mệnh môn.
Lưng và chân không có sức, thêm Phục lưu. Rối loạn tiêu hoá thêm Công tôn. Lưng
và háng đau thêm Bạch hoàn du, Cư liêu. Đau vùng xương cùng thêm Âm bao, Cư liêu
hoặc Bát liêu.
Thêm Phục lưu
và Tam âm giao.
(Phục lưu phối
Tam âm giao có tác dụng bổ Thận, dưỡng âm, thanh nhiệt).
Hoả của Tâm,
Thận bốc lên gây nên kém ngủ, mộng tinh, tiểu ít, nước tiểu vàng đậm, thêm Dũng
tuyền, Tâm du để dẫn hoả xuống. Tai ù thêm Thính hội. Họng sưng đau thêm Chiếu
hải.
+
Thận Dương Hư: Lưng đau ê ẩm, nghỉ ngơi hoặc nằm, xoa bóp, chườm ấm thì đỡ hơn,
lưng tê, mất cảm giác, đi hoặc đứng chân như không còn sức, chân tay lạnh, sợ
lạnh, lưng lạnh, hơi thở ngắn, da mặt xanh xám, nước tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu
lưỡi trắng, mạch Trầm Tế, không lực.
Điều trị: Bổ
Thận, tráng dương, ôn kinh, tán hàn. Dùng bài Hữu Quy Hoàn gia giảm: Thục địa
12g, Đỗ trọng Thỏ ty tử, Tục đoạn, Lộc giác giao, Sơn dược, Câu kỷ tử, Cẩu
tích, Sơn thù đều 9g, Đương quy 8g, Phụ tử 3g.
(Thục địa, Sơn
thù, Sơn dược bổ Thận, dưỡng âm; Câu kỷ tử bổ âm, trợ dương, dựa theo ý ‘Âm và
dương cùng chung một nguồn’; Lộc giác giao, Đỗ trọng, Thỏty tử, Tục đoạn, Cẩu
tích và Phụ tử ôn bổ Thận dương, làm mạnh lưng; Ngoài ra, Tục đoạn hoạt huyết,
dưỡng cân; Đỗ trọng là thuốc chủ yếu trị đau lưng; Cẩu tích tác động vào cột
sống; Lộc giác giao ích tinh, mạnh xương; Phụ tử ôn kinh, chỉ thống; Đương quy
hoạt huyết, hoá ứ, chỉ thống, dưỡng Can huyết để làm cho mạnh gân).
Trung khí hạ
hãm và cảm giác âm ỉ ở vùng đau, bỏ Câu kỷ tử, Đương quy, thêm Hoàng kỳ 12g,
Đảng sâm, Bạch truật đều 9g, Sài hồ, Thăng ma đều 3g. Khí trệ, huyết ứ, thêm
Nhũ hương, Một dược đều 6g, tăng Đương quy lên 9g. Có dấu hiệu hàn thấp, thêm
Tần giao, Độc hoạt, Khương hoạt đều 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều
12g.
Châm cứu
Nếu nhân đĩa
đệm lồi ra ngoài, châm xiên huyệt Giáp tích, tuỳ theo vị trí tổn thương mà chọn
huyệt ở vùng trên dưới chỗ đó. Dùng phép châm tả và cứu.
Nếu nhân đĩa
đệm tụt vào, đè vào dây thần kinh, châm huyệt Giáp tích đối diện với bên đau của
chỗ thoái vị. Dùng phương pháp châm tả và cứu.
Thêm Giáp tích
gần vùng đau như Mệnh môn, Yêu dương quan, Huyền xu, Tam tiêu du, Thận du, Khí
hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, A thị huyệt. Châm tả và cứu.
Nếu đau dọc
theo đường kinh Bàng quang, thêm Uỷ trung hoặc Côn lôn. Đau giữa cột sống thêm
Trường cường, Nhân trung hoặc Hậu khê. Đau cả hai bên và ở giữa: thêm Thân mạch,
Hậu khê. Đau vùng mông, thêm Trật biên, Hoàn khiêu. Đau lạnh vùng lưng dưới,
mông và chân: cứu Trật biên, Thừa phò, Thừa sơn. Đau quanh mặt ngang đùi thêm
Phong thị. Đau mặt sau đùi, thêm Ân môn. Đau mặt ngoài cẳng chân, thêm Dương
lăng tuyền, Huyền chung. Đau bắp chân thêm Thừa sơn. Chân lạnh, cứu Mệnh môn.
Lưng và chân không có sức, thêm Phục lưu. Rối loạn tiêu hoá thêm Công tôn. Lưng
và háng đau thêm Bạch hoàn du, Cư liêu. Đau vùng xương cùng thêm Âm bao, Cư liêu
hoặc Bát liêu.
Thêm Mệnh môn,
Phục lưu.
(Mệnh môn và
Phục lưu để ôn Thâïn, tán hàn).
Tai ù thêm cứu
Nhĩ môn; Chóng mặt cứu Bá hội; Mộng tinh cứu Trật biên; Dương vong thêm Thái
khê, Tam âm giao để bổ dương tư âm.
+
Khí Trệ Huyết Ứ: Đau chói vùng lưng và chân, đau cố định một chỗ, ngày nhẹ, đêm
nặng. Ấn vào cột sống nhiều khi đau không chịu nổi. Có khi đau lan xuống chân,
làm cho chân mất cảm giác, di chuyển khó, táo bón, lưỡi đỏ tím hoặc có vết ban
đỏ, mạch Trầm, Sáp, Huyền.
Điều trị: Hành
khí, hoạt huyết, khứ ứ, thông kinh hoạt lạc, chỉ thống. Dùng bài Thân Thống Trục
Ứ Thang gia giảm: Tục đoạn 12g, Cốt toái bổ, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa,
Khương hoạt, Nhũ hương, Đương quy, Ngưu tất, Địa long, Tần giao đều 9g, Xương bồ
6g, Cam thảo 3g.
(Đào nhân,
Hồng hoa, Nhũ hương, Đương quy, Xuyên khung, Ngưu tất hoạt huyết, khứ ứ, chỉ
thống; Tục đoạn, Cốt toái bổ hoạt huyết, bổ Thận, mạnh gân xương; Xương bồ hành
khí, hoạt huyết; Khương hoạt, Xuyên khung, Tần giao chỉ thống; Nhũ hương, Địa
long thông kinh, chỉ thống; Cam thảo điều hoà các vị thuốc).
Khí trệ, huyết
ứ do phong thấp, thêm Độc hoạt, Uy linh tiên, Phòng phong đều 9g; Do chấn thương
thêm Tam thất 3g, Tô mộc 9g hoặc Vân Nam Bạch Dược.
Thắt lưng đau kèm kinh nguyệt không đều, thay bài Thân Thống Trục Ứ Thang bằng
bài Đào Hồng Tứ Vật Thang gia giảm: Tục đoạn, Đương ưuy, Xuyên khung, đều 12g,
Đào nhân, Hồng hoa, Thục địa, Bạch thược, Hương phụ đều 9g, Sài hồ 6g. Thận hư
thêm Ngũ gia bì 15g, Tang ký sinh, Cẩu tích đều 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục
linh đều 12g. Chi dưới tê, mất cảm giác thêm Thổ miết trùng, Ô tiêu xà đều 6g,
Ngô công 3g.
Châm cứu
A thị huyệt,
Thuỷ câu, Uỷ trung. Châm A thị huyệt trung bình 20 phút, vê kim, sau khi rút
kimchâm Thuỷ câu và Uỷ trung, châm tả, đồng thời bảo người bệnh làm một số động
tác như xoay, cúi, ngửa cho đến khi hết đau. Nếu vẫn chưa bớt, thêm Tam âm giao,
Hợp cốc.
(A thị huyệt
hoạt huyết, thông kinh; Thuỷ câu (Nhân trung) và Uỷ trungthông mạch Đốc và kinh
túc Thái dương).
Nếu nhân đĩa
đệm lồi ra ngoài, châm xiên huyệt Giáp tích, tuỳ theo vị trí tổn thương mà chọn
huyệt ở vùng trên dưới chỗ đó. Dùng phép châm tả và cứu.
Nếu nhân đĩa
đệm tụt vào, đè vào dây thần kinh, châm huyệt Giáp tích đối diện với bên đau của
chỗ thoái vị. Dùng phương pháp châm tả và cứu.
Thêm Giáp tích
gần vùng đau như Mệnh môn, Yêu dương quan, Huyền xu, Tam tiêu du, Thận du, Khí
hải du, Đại trường du, Quan nguyên du, A thị huyệt. Châm tả và cứu.
Nếu đau dọc
theo đường kinh Bàng quang, thêm Uỷ trung hoặc Côn lôn. Đau giữa cột sống thêm
Trường cường, Nhân trung hoặc Hậu khê. Đau cả hai bên và ở giữa: thêm Thân mạch,
Hậu khê. Đau vùng mông, thêm Trật biên, Hoàn khiêu. Đau lạnh vùng lưng dưới,
mông và chân: cứu Trật biên, Thừa phò, Thừa sơn. Đau quanh mặt ngang đùi thêm
Phong thị. Đau mặt sau đùi, thêm Ân môn. Đau mặt ngoài cẳng chân, thêm Dương
lăng tuyền, Huyền chung. Đau bắp chân thêm Thừa sơn. Chân lạnh, cứu Mệnh môn.
Lưng và chân không có sức, thêm Phục lưu. Rối loạn tiêu hoá thêm Công tôn. Lưng
và háng đau thêm Bạch hoàn du, Cư liêu. Đau vùng xương cùng thêm Âm bao, Cư liêu
hoặc Bát liêu.
Một số vị
thuốc có hiệu quả cao đối với cột sống, đặc biệt đối với trường hợp thoái vị là:
. Cẩu tích:
có tác dụng rất cao trong trường hợp Thận dương hư.
. Tang ký
sinh: Thận âm hư.
. Đỗ trọng:
Thận âm và Thận dương hư, các trường hợp Hàn, nhiệt đều dùng được.
. Tần giao:
dùng trong trường hợp do phong thấp, Tâm hư.
|