|
| |
SỎI MẬT
(Cholecystolithiasis)
Đại Cương
Sỏùi mật là bệnh đường mật có sỏi, phát sinh ở bất kỳ bộ phận nào ở hệ thống túi
mật (túi mật, ống mật).
Bệnh nhân thường từ tuổi trung niên trở lên, phụ nữ bị bệnh nhiều hơn nam giới.
Triệu chứùng lâm sàng chủ yếu là đau ở vùng hạ sườn bên phải. Sỏi mật thường
kèm theo viêm túi mật hoặc ống mật. Theo y học cổ truyền thì nguyên nhân cơ chế
bệnh và biện chứng luận trị cơ bản không khác với Viêm Túi Mật.
Đông y gọi là Đởm Thạch Chứng.
Triệu Chứng
Triệu chứng lâm sàng của sỏi mật tùy thuộc vào vị trí, tính chất, kích thước to
nhỏ và biến chứng của bệnh. Có thể do trạng thái tinh thần kích động, chế độ ăn
uống (ăn nhiều chất nóng, uống rượu...), thời tiết thay đổi, nóng lạnh thất
thường ảnh hưởùng nhiều đến cơn đau tái phát. Diễn tiến bệnh có thể chia làm 2
thời kỳ: phát cơn đau và ổn định.
1-Thời kỳ phát cơn đau: bệnh phát đột ngột, rất đau vù ng hạ sườn phải, cơn đau
thắt kéo dài từng cơn nặng lên, đau xuyên lên vùng vai hoặc bả vai bên phải, ấn
vào đau nhiều hơn (cự án). Người bệnh sốt cao hoặc vừa hoặc kèm cơn rét, miệng
đắng, họng khô, nôn, buồn nôn, hoặc da mắt vàng, nước tiểu vàng, táo bón, lưỡi
đỏ, rêu vàng hoặc vàng nhầy, mạch Huyền, Hoạt, Sác, điểm Murphy (+) hoặc cơ vùng
bụng trên bên phải căng tức. Gan và túi mật to, đau nhiều sốt cao, hôn mê nói
sảng, ngoài da có nốt ứ huyết, chảy máu cam... (thường kèm theo viêm túi mật).
2. Thời kỳ ổn định: vùng hạ sườn phải ấn đau nhẹ, cảm giác đau âm ỉ có thể xuyên
lên vai lưng từng cơn nhẹ rồi hết hoặc bụng trên đầy, chán ăn, miệng đắng, sợ
mỡ, không sốt, không vàng da, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc hơi vàng, mạch Huyền.
Thời kỳ này không có triệu chứng viêm nhiễm hoặc tắc mật.
Sỏi mật theo thành phần có thể chia ra sỏi Cholesteron và sỏi Sắc tố mật.
Sỏi Cholesteron thường do ăn nhiều mỡ động vật, nồng độ Cholesteron trong máu
cao có quan hệ với sự hình thành sỏi. Sỏi sắc tố mật phần lớn do tế bào thượng
bì rơi rụng trong viêm nhiễm đường mật, vi khuẩn, giun đũa hoặc trứng giun hình
thành hạch tâm của sỏi.
Chẩn Đoán
Chủ yếu dựa vào:
- Đau tức vùng bụng trên: thời kỳ phát cơn đau dữ dội vùng hạ sườn phải xuyên
lên vai hoặc xuống bả vai, cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ba ngày và có thể tái
phát.
- Đau sườn: Triệu chứng rối loạn tiêu hóa, ăn vào đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi,
nôn, buồn nôn, nôn ra mật hoặc thức ăn.
- Khám ấn đau vùng túi mật, điểm Murphy dương tính.
- Nếu có tắc nghẽn thì da sẽ vàng, tiểu vàng, nếu nhiễm khuẩn thì sốt cao.
Siêu âm: có giá trị xác định chẩn đoán kích thước túi mật, số lượng sỏi, chính
xác trên 90%.
Điều Trị
Biện Chứng Luận Trị
Về căn bản giống như viêm túi mật cấp và mạn tính.
Phép trị chủ yếu là: Sơ can, lợi đởm, hành khí, hoạt huyết, thanh lợi thấp
nhiệt, kiện tỳ, hòa vị. Tùy theo bệnh tình mà chọn bài thuốc và gia giảm bài
thuốc thích hợp.
Bài thuốc cơ bản: Uất kim, Hoàng cầm, Kê nội kim, Sinh đại hoàng (cho sau) đều
10g, Chỉ xác, Quảng Mộc hương, Nhân trần, Hổ trượng đều 15g, Kim tiền thảo 30g,
Hải kim sa 20g, Sinh cam thảo 6g sắc uống ngày một thang.
Gia giảm: Vùng mạn sườn phải đau nhiều thêm Xuyên luyện tử, Diên hồ sách. Hạ
sườn có cục ấn đau thêm Tam lăng, Nga truật, Xích thược. Nôn, buồn nôn thêm Trúc
nhự, Khương Bán hạ. Nhiệt thịnh thêm Kim ngân hoa, Chi tử, Bồ công anh. Táo bón
tăng lượng Sinh Đại hoàng. Có triệu chứng hàn thấp bỏ Nhân trần, Hổ trượng, thêm
Phụ phiến, Thương truật, Hậu phác, Trần bì. Trường hợp sỏi to, điều trị nội khoa
đông tây y kết hợp không khỏi, tái phát nhiều lần nên chuyển sang điều trị ngoại
khoa.
Kinh Nghiệm Điều Trị Của
Nhật Bản
+ Đại Sài Hồ
Thang điều trị sỏi mật kèm ngục đau, nôn khan, nôn, vai đau, táo bón nơi người
béo, khoẻ.
Dùng bài này
lâu ngày sẽ cải thiện tình trạng cơ thể, trừ đau ngực và phòng tái phát sỏi mật.
+ Sài Hồ Quế
Chi Thang: trị sỏi mật nơi người thể trạng trung bình kèm đau bụng nhẹ; dùng
trong trường hợp sỏi túi mật và viêm túi mật.
+ Giải Lao
Tán: trị sỏi mật mạn nơi người cơ thể suy yếu.
+ Tiểu Sài Hồ
Thang: trị sỏi mật mạn nếu các chứng trạng kéo dài và sốt không dứt.
+ Thược Dược
Cam Thảo Thang: làm giảm đau tại chỗ.
+ Đại Hoàng
Phụ Tử Thang: làm giảm đau nặng. Bài thuốc này, vừa điều trị hàn vừa có tác
dụng như thuốc nhuận trường.
Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm Trị Sỏi Mật
+ Hoàng Kim Linh Thang (Tứ Xuyên Trung Y (8) 1986): Đại hoàng 5 ~ 30g, Hoàng cầm
15g, Khương hoàng 10 ~ 20g, Uất kim 20 ~ 60g, Kim tiền thảo 20 ~ 40g, Kim ngân
hoa 15 ~ 30g, Kê nội kim (tán nhuyễn uống với nước thuốc sắc) 12g, Uy linh tiên
20 ~ 60g. Sắc uống.
TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, hóa ứ, bài thạch. Trị sỏi mật
Đã trị 34 ca, khỏi 24,chuyển biến tốt 9, không kết quả 1. Đạt tỉ lệ 97,1%.
+ Lợi Đởm Bài Thạch Thang (Tứ Xuyên Trung Y (8) 1986): Sài hồ 15g, Hoàng cầm,
Liên kiều đều 10g, Hổ trượng căn 15g, Kim tiền thảo 30g, Nguyên minh phấn 10g
(uống với nước thuốc sắc), Đan sâm 15g, Hồng hoa 10g, Hoạt thạch 20g, Sơn tra
15g. Sắc uống lúc đói. Trị sỏi mật, túi mật viêm mạn.
Đã trị 10 ca, một số uống 3 ~ 5 thang đã ra sỏi, uống hơn 10 thang, sỏi ra hết,
các triệu chứng đều khỏi.
+ Đởm Kinh Thang (Tứ Xuyên Trung Y (12) 1987): Giáp châu (uống riêng) 6g, Uất
kim 20g, Sài hồ, Bạch thược, Mộc hương, Huyền hồ sách đều 12g, Chỉ xác, Chi tử
đều 10g, Mạch nha, Cốc nha, Thần khúc, Kim tiền thảo, Hoa tiêu (uống với nước
thuốc) đều 31g. Sắc uống.
TD: Thanh Can, lợi Đởm, trục ứ bài thạch. Trị sỏi mật, túi mật đau quặn.
Đã trị 281 ca. Sau khi uống hết đau 251 ca (thường trong lúc bài tiết sỏi ra
97), không kết quả 30. Tỉ lệ giảm đau là 89,3%.
+ Đại Sài Hồ Thang Gia Vị (Tân Trung Y (6) 1979): Sài hồ 24g, Hoàng cầm 10g, Bán
hạ 9g, Bạch thược 12g, Tửu quân (Đại hoàng chế với rượu) 10g, Sinh khương 9g,
Đại táo 4 trái, Kim tiền thảo 31g, Uất kim 9g, Hải kim sa, Kê nội kim, Thạch vi
đều 12, Hoạt thạch 24g, Chỉ xác 6g, Nhân trần 31g. Sắc uống.
TD: Thư Can hòa Vị, thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm bài thạch. Trị sỏi mật, túi
mật viêm mạn.
Lâm sàng điều trị đều có hiệu quả tốt.
+ Thư Can Lợi Đởm Thang (Bắc Kinh Trung Y (1) 1989): Sài hồ 19g, Xích thược,
Bạch thược đều 15g,
Phật thủ, Nhân trần đều 30g, Uất kim, Thạch hiện xuyên, Tiêu Sơn tra đều 20g,
Diên hồ sách, Chỉ thực, Nhũ hương, Một dược, Lộc giác sương đều 10g, Đại hoàng
(sinh), Thái bạch đều 6g. Sắc uống.
TD: Thư Can, lợi Đởm, lý khí chỉ thống. Trị sỏi mật.
Đã trị 50 ca, uống từ 1 đến 4 thang, tỉ lệ giảm đau là 98%.
+ Thanh Đởm Hành Khí Thang (Lương Kiếm Ba Phương): Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ
(pháp) đều 10g,
Mộc hương, Chỉ xác đều 5g, Đại hoàng, Uất kim, Hương phụ đều 10g, Nhân trần 20g.
Sắc uống.
TD: Sơ Can lý khí, tiêu viêm thanh nhiệt, lợi Đởm bài thạch. Trị sỏi mật, túi
mật viêm mạn tính.
+ Lợi Đởm Bài Thạch Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Kim tiền
thảo 30g, Lộ lộ
thông 15g, Uy linh tiên, Cứu tất ứng đều 30g, Vương bất lưu hành, Nhân trần đều
15g, Thủ ô 30g, Sài hồ 5g, Chỉ xác 12g, Kê nội kim 9g, Đại hoàng (cho vào sau),
Mang tiêu (hòa vào thuốc uống) đều 12g. Sau khi sắc, lấy 1 chén, thêm Mang tiêu
và Kê nội kim vào trộn đều, uống lúc đói.
TD: Thư Can tả hỏa, thanh nhiệt lợi thấp, hành khí chỉ thống, Lợi đởm bài thạch.
Trị sỏi mật.
Lâm sàng cho thấy bài này có hiệu quả cao.
+ Can Đởm Bài Thạch Thang (Trung Quốc Đương Đại Trung Y Danh Nhân Chí): Sài hồ
10g, Bạch thược,
Chỉ xác đều 15g, Cam thảo, Đương quy đều 10g, Kim tiền thảo 30g, Nhân trần 15g,
Hậu phác, Đại hoàng, Xuyên luyện tử, Uất kim, Nguyên hồ đều 10g, Đảng sâm 15g.
Sắc uống.
TD: Lợi Đởm, sơ Can, tiêu viêm chỉ thống, trục ứ bài thạch. Trị sỏi mật.
+ Sơ Can Lợi Đởm Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Sài hồ, Chỉ thực, Trần
bì, Mang tiêu,
Nguyên hồ đều 10g, Hổ trượng căn, Ngân hoa, Kim tiền thảo, Nhân trần đều 30g,
Đại hoàng (sinh), Uất kim, Xuyên luyện tử, Bạch thược đều 12g. Sắc uống.
TD: Sơ Can, giải uất, lý khí, chỉ thống. Trị viêm túi mật kèm sỏi mật.
Đã dùng bài này trị trên 10 ca bệnh, không phải giải phẫu, bệnh nhân vẫn tiếp
tục công tác hoặc lao động.
+ Đởm Đạo Bài Thạch Thang (Trung Tây Y Kết Hợp Trị Liệu Cấp Phúc Chứng): Kim
tiền thảo 40g, Đại
hoàng (sống), Nhân trần, Uất kim Chỉ xác đều 12g. Sắc uống. 1 tháng là một liệu
trình, nghỉ 1 tuần lại tiếp tục.
TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, hành khí, chỉ thống, lợi đởm, bài thạch. Trị sỏi mật
do thấp nhiệt.
+ Bài Thạch Thang Ngũ Hiệu (Trung Tây Y Kết Hợp Trị Liệu Cấp Phúc Chứng): Kim
tiền tảo 30g, Chỉ
xác, Hoàng cầm, Mộ hương, Xuyên luyện tử đều 9g, Đại hoàng 6g. Sắc uống.
TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, hành khí, lợi đởm, bài thạch. Trị sỏi mật, túi mật
viêm do sỏi (thể khí uất).
. Sau khi dùng bài thuốc này, có thể đau dữ dội hơn. Có thể là dấu hiệu sỏi bị
tiêu ra, là dấu hiệu đặc trưng của việc bài thạch.
+ Bài Thạch Thang Lục Hiệu (Trung Tây Y Kết Hợp Trị Liệu Cấp Phúc
Chứng): Chi tử, Chỉ xác, Diên hồ sách, Ddaị hoàng, Mộc hương đều 20g, Hổ trượng
(hoặc cây Gai), Kim tiền thảo (hoặc Nhân trần) đều 40g. Sắc uống.
TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, hành khí, chỉ thống, lợi đởm, bài thạch. Trị sỏi mật,
túi mật viêm do sỏi (thể thấp nhiệt).
Kinh nghiệm của bệnh viện Tôn Nghĩa (Trung Quốc) cho biết bài thuốc này thích
hợp với mấy trường hợp sau:
. Ống mật có sỏi, đường kính nhỏ hơn 1cm.
. Ống gan có sỏi 3cm, sau khi mổ xong còn sót lại.
. Sau khi dùng bài thuốc này, có thể đau dữ dội hơn. Có thể là dấu hiệu sỏi bị
tiêu ra, là dấu hiệu đặc trưng của việc bài thạch.
+ Bài Thạch Thang (Thiên Gia Diệu Phương q Thượng): Bạch mao
căn,Đông quỳ tử, Hoạt thạch, Kim tiền thảo đều 30g, Biển súc, Cù mạch, Kê nội
kim (sống), Xa tiền tử đều 16g, Lưu hành tử 18g, Ngưu tất 10g, Mộc thông 6g. Sắc
uống.
TD: Thanh nhiệt, lợi thấp, bài thạch. Trị sỏi mật.
Bài này có tác dụng tốt đối với cơn đau sỏi mật, đường tiểu viêm cấp.
+ Tam Hoàng Bài Thạch Thang (BV Tôn Nghĩa - Viện Trung Y Thượng Hải): Chỉ xác
12g, Đại hoàng 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng liên 8g, Mộc hương 12g. Sắc
uống.
TD: Trị thấp nhiệt uất kết, sỏi ống mật.
+ Bạch Ngọc Hoá Đờm Thang (Trung Quốc Trung Dược Thành Dược Xử
Phương Tập): Bạch phàn 90g, Uất kim 210g, Tán bột, làm viên. Ngày uống 16 - 20g
với rượu nóng.
Hoặc dùng nước sắc Bạc hà, trộn thuốc bột làm thành viên. Ngày uống 8~12g.
ĐIỀU TRỊ BẰNG CHÂM CỨU
Thể Châm
+ Huyệt chính: Can du, Đởm du, Nhật nguyệt (bên phải), Kỳ môn (bên phải).
Biện chứng chọn huyệt:
Khí trệ thêm Nội quan, Công tôn. Thấp nhiệt thêm Đại chùy, Khúc trì, Ngoại
quan. Nhiệt độc thịnh thêm Đại chùy, Thập tuyên, Thủy câu, Quan nguyên.
Cách châm: sau khi đắc khí, vê kim vài phút, sau đó lưu kim 20-30 phút, bệnh
nặng có thể lưu kim hơn 1 giờ, hoặc điện châm, kích thích mạnh, cách 10 phút về
kim 1 lần. Thời kỳ phát cơn, ngày châm 1-2 lần, thời kỳ ổn định mỗi tuần 2-3 lần
(Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
+ Can uất khí trệ: sơ Can, giải uất, lý khí, chỉ thống. Châm Dương lăng tuyền,
Chi câu, Kỳ môn, Thái xung, Nội quan, Trung quản, Thiên xu, Đởm nang huyệt.
Thấp nhiệt uẩn kết: thanh hoá thấp nhiệt, sơ lợi Can Đởm. Châm Kỳ môn, Nhật
nguyệt, Chi câu, Dương lăng tuyền, Âm lăng tuyền, Trung quản, Túc tam lý (Bị Cấp
Châm Cứu).
Nhĩ Châm
+ Huyệt chính: Giao cảm, Thần môn, Đởm. Huyệt phối hợp: Can, Tá tràng.
Phương pháp: Chọn 2-3 huyệt, có phản ứng mạnh, kích thích mạnh, lưu kim 30 phút,
ngày 2-3 lần hoặc dán hạt thuốc (Thường dùng hạt Vương bất lưu hành) vào huyệt
ở tai. Người bệnh tự làm mỗi ngày nhiều lần, 3-7 ngày thay hạt thuốc (có thể
dùng nhĩ hoàn), chọn huyệt thay đổi ở hai tai (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
+ Can, Đởm, Hung chuỳ, Tỳ, Vị, Tam tiêu, Đại trường, Hành tá tràng, Bì chất hạ,
Giao cảm (Bị Cấp Châm Cứu).
Thủy Châm
Huyệt chính: Đởm du, Trung quản, Túc tam lý, Đởm nang, mỗi lần chọn 1 -2 huyệt,
mỗi huyệt chích dịch Đương quy hoặc Hồng hoa 5ml, hoặc 10ml glucose 10%, ngày
1-2 lần (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Một Số Kết Quả Châm Trị Sỏi Mật
1- Dương thị và cộng sự, dùng Laser châm huyệt Đởm du (bên phải), A thị huyệt
vùng bụng trên, kết hợp cho uống 50% Sulfat Magnesium trị 50 ca sỏi mâït. Kết
quả ra sỏi, hết triệu chứng lâm sàng 40 ca, không ra sỏi nhưng triệu chứng lâm
sàng hết hoặc giảm nhẹ 9 cas, 1 ca không kết quả.
Liệu trình bình quân 48 ngày, thời gian ra sỏi bình quân 3 - 7 ngày, sỏi ra
nhiều nhất là 12g, hòn sỏi to nhất là 3, 6 x 1 x 2cm.
2. Tổ hợp tác trị sỏi mật bằng phương pháp ấn tai thành phố Nam Kinh báo cáo
dùng hạt ‘Vương bất lưu hành’ dán huyệt loa tai trị 365 ca sỏi mật. Có so sánh
với 41 ca trị bằng viên tiêu viêm, lợi mật.
Kết quả ở lô dùng hạït 'Vương bất lưu hành’ dán huyệt loa tai có 4, 4% khỏi
trước mắt, 15,3% kết quả tốt, có kết quả 62, 2%, không kết quả 8, l%.
Tỷ lệ có kết quả ở lô chứng là 14,9% (P<0, 0l).
3. Báo cáo của Trương Thị (Trung Quốc) dùng điện châm huyệt loa tai trị sỏi mật
510 ca. Kết quả: Triệu chứng lâm sàng giảm hoặc hết (gồm cả số cóù và không ra
sỏi) là 508 ca (99, 6 l%), không thay đổi rõ rệt 2 ca 0,39%). Có ra sỏi 462 ca
(90,59%). Trong đó số ra hết sỏi là 90 ca (19, 48%). Lô chứng 78 ca
đều không có ra sỏi, triệu chứng giảm không rõ.
4. Học viện y Tôn Nghĩa dùng phương pháp kết hợp toàn diện Đông Tây y để châm
huyệt Đởm du, Nhật nguyệt, Lương môn, Thái xung trị 217 ca sỏi ống mật. Kết quả
lâm sàng 9l%, tỉ lệ ra sỏi 65%, trong đó, tỉ lệ ra sạch 27%,
5. Bệnh viện trung tâm Văn Đăng (Trung Quốc) châm các huyệt Nhật nguyệt, Kỳ môn
(bên phải) kèm uống thêm Sulfat Magnesium điều trị 522 ca sỏi ống mật. Tỉ lệ ra
sỏi 78, 4%, có 379 hòn đường kính từ 1cm trở lên, trong đó hòn to nhất là 4,5 x
3 – 5 x 3,5cm, bệnh nhân ra nhiều sỏi nhất là 41g.
(Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
Bệnh Án Sỏi Mật
(Trích trongThiên Gia Diệu Phương, q Thượng)
Dương XX, nam, 54 tuổi, công nhân, đến khám ngày 8-10-1974. Bệnh nhân đau tức
bụng trên đã hơn một năm, có lúc đau kịch liệt. Thường hay đau sau lúc ăn cơm
trưa, bắt đầu đau âm ỉ liên tục, rồi dần dần đau nặng thêm, xuyên lên bả vai
đến mức toát mồ hôi hột, không chịu nổi. Sau điều trị xuất viện vẫn đau lại,
thường miệng khô, buồn nôn, nôn mửa, ăn uống không ngon, vùng bụng đầy hơi, tiểu
tiện ít mà đỏ. Lúc đau thì bụng cự án, không vàng da, chất lưỡi đỏ, rêu vàng
dày, mạch tả quan Huyền cấp, hữu quan Huyền Sác. Đó là can khí uất kết, mộc uất
hóa hỏa. Nên trị bằng phép sơ can lý khí, thanh nhiệt hóa trệ, lợi đởm bài
thạch. Uống Thanh Đởm Hóa Thạch Thang (Sài hồ 6g, Nga bất thực thảo 15g, Diên hồ
6g, Kim tiền thảo 15g, Kim linh tử 10g, Hoàng cầm 9g, Uất kim 6g, Thông thảo 3g,
Bồ công anh 12g, Bắc nhân trần 15g). Uống 6 thang giảm hẳn đau sườn, cũng chưa
thấy lên cơn đau dữ dội. Mạch bên trái Huyền Sác, bên phải Huyền Tế, lưỡi đỏ,
rêu mỏng vàng, tiểu tiện khá nhiều, can khí đã thưa thoáng, hỏa có biểu hiện đi
xuống. Vẫn dùng bài thuốc trên uống thêm 4 thang nữa, hết hẳn đau. Nhưng dạ dày
vẫn còn đầy tức, ăn ít, mạch bên trái Huyền, bên phải Tế, lưỡi đỏ, rêu trắng, đó
là Tỳ gặp mộc quấy phá, do đó phải kiện Tỳ hóa thấp, lại dùng thêm bài thuốc lý
can khí (Xuyên phác 9g, Phục linh 9g, Kim linh tử 9g, Bạch thược 9g, Mạch nha
9g, Mộc hương 6g, Long đởm thảo 6g, Đảng sâm 12). Sau khi uống 5 thang thì ăn
được, hết tức trong dạ dày. Sau 1 tháng lại đến bệnh viện kiểm tra, chụp X quang
không còn thấy sỏi mật trên phim nữa.
Bàn
luận: Bài Thanh Đởm Hóa Thạch Thang dùng khi lên cơn sỏi mật cấp, bao giờ cũng
có hiệu quả. Trong bài có vị Nga bất thực thảo là kinh nghiệm dân gian được thực
tiễn xác minh, thuốc này có tác dụng mạnh lợi đởm bài thạch.
Bệnh Án Sỏi Mật
(Trích trong
‘Chinese Herbal Medicine And The Problem Of Agging’).
Một phụ nữ 56
tuổi, vợ của một chủ tịch công ty đến khám ở bệnh viện này ngày 10 tháng 9 năm
l966. Trong tháng 5 năm 1965 bệnh nhân đã vào bệnh viện ngoại khoa phẫu thuật để
loại bỏ 150 hòn sỏi nhỏ, sau đó bệnh nhân cảm thấy nặng ở vùng gan, đau và có
chiều hướng phát triển táo bón, bệnh nhân 2 ngày đại tiện một lần. Các triệu
chứng khác là thường xuyên tiểu tiện, thể lực trung bình, sắc mặt tốt. Phúc chẩn
nhận thấy đau ngực, căng cơ thẳng bụng, bệnh nhân đã dùng bài Sài Hồ Quế Chi
Thang thêm Chỉ thực, Hoàng liên, Ý dĩ và Đại hoàng. Sau khi dùng thuốc, bệnh
nhân đã đại tiện đều đặn một lần hàng ngày. Sau 3 tháng, chứng đau ngực biến
mất. Bài thuốc này rất hữu ích là đã làm nhẹ tình trạng sau mổ. Nếu dùng sau mổ
bài thuốc này sẽ phòng ngừa tái phát: Sau khi dùng thuốc này 100 ngày, những khó
chịu của bệnh nhân ở gan biến mất, và thể trạng cũng được cải thiện.
Y Án Sạn
Mật
(Trích trong
‘Bệnh Thường Gặp Thuốc Dễ Tìm’, q. 1).
Chị Lưu Thị D. 48
tuổi. Buôn bán.
Gần đây, chị
thường thấy đau âm ỉ ở vùng hạ sườn bên phải kèm ăn uống giảm sút. Lúc đầu chị
tự cho rằng mình bị gan yếu, nên chị tự động mua Sorbitol, Chophytol… về uống.
Lúc đầu uống, việc tiêu hoá của chị có vẻ tốt hơn, thấy bớt đau, dễ tiêu hơn.
Nhưng chỉ sau 1 tuần, chứng nào hoàn chứng nấy. Chị đi siêu âm, kết quả cho thấy
trong túi mật có nhiều sạn nhỏ. Bác sĩ cho thuốc uống, 1 tháng sau, bệnh chứng
không giảm, siêu âm lại, sạn vẫn còn nhiều. Chị chuyển qua xin uống thuốc Bắc.
Bài thuốc uống
như sau:
Uất kim
(Nghệ) 16g
Kê nội
kim 20g
Mật vịt
(tươi) 1 cái
Nghệ, giã nát, Kê
nội kim rang dòn, tán thành bột.
Trộn chung với
Mật vịt, chia làm 2 lần uống trong ngày.
Uống liên tục
15 ngày, siêu âm lại, kết quả cho thấy sạn hột chuyển thành dạng bùn, không bị
đau ê ẩm như trước, ăn uống được khá hơn. Uống 1 tháng rưỡi, siêu âm lại, sạn
hoàn toàn biến mất, hết hẳn đau, ăn uống được như thường.
3 tháng sau
lại siêu âm 1 lần nữa, kết quả ghi gan mật bình thường.
6 tháng sau
lại siêu âm tiếp, kết quả vẫn bình thường.
Mỗi năm đều siêu âm kiểm
tra nhưng lúc nào cũng có kết quả bình thường. 3 năm nay, kết quả lúc nào cũng
tốt.
Y Án Sạn
Mật
(Trích trong
‘Bệnh Thường Gặp Thuốc Dễ Tìm’, q. 2).
Bà Nguyễn thị B.
56 tuổi, thường xuyên hay đau bụng, về phía dưới hạ sườn bên phải. Thỉnh thoảng
có những cơn đau dữ dội, đau đến nỗi phải gập người lại. Có khi đau phát sốt.
Lúc đầu các phòng khám tư chẩn đoán là đau bao tử, cho uống thuốc bao tử rất
nhiều nhưng không bớt. Đi Trung tâm xét nghiệm y khoa Hòa Hảo (tp. Hồ Chí Minh)
siêu âm được biết là trong mật có 3-4 cục sạn nhỏ và được cho thuốc uống 15
ngày. Trong thời gian uống thuốc, lúc đau lúc không, siêu âm ở phòng siêu âm
ngoài giờ với kết quả vẫn thấy sạn, không bớt mà đường kính sạn tăng hơn 1 ít.
Bà
cho biết, mỗi lần uống thuốc tây vào, bụng bà cồn cào và có cái gì đó nóng như
than trong bụng, vì vậy Bà không dám uống tây tiếp và xin chuyển sang điều trị
bằng Đông y.
Chúng
tôi hướng dẫn bà dùng: Táo tây (còn gọi là quả bom- pomme- apple), dùng 2-3 quả,
gọt bỏ vỏ, bỏ hột, cắt nhỏ, cho vào máy xay sinh tố, xay cho thật nhuyễn với
100ml nước (Nếu không có máy xay sinh tố, có thể cắt nhỏ, cho vào chén, thêm
nước cho ngập chén, cho vào nồi chưng cách thủy cho thật chín nhừ, ép lấy nước
cốt)ø. Dùng nước đó uống ngày 2 lần. Uống liên tục 5 ngày. Đến ngày thứ 5, buổi
chiều không ăn gì hết (có thể ăn ít cháo), đến 6-7 giờ tối (18-19 giờ), uống 1
ly nước ấm pha với 4g muối. Đến 8 giờ (20 giờ), uống thêm 1 ly nước muối như
trên. Đến 10 giờ (22 giờ), lấy 2 trái chanh, vắt lấy nước, pha với 1 lượng dầu
ăn (dầu nành, dầu phộng...) bằng với lượng nước chanh, quấy đều lên, uống. Sáng
sớm khi đi cầu, bà chú ý thấy có 4 cục sạn theo phân ra.
Lạ 1
điều là cục sạn ra có mầu xanh.
Theo
chúng tôi, phương thuốc này không chỉ dùng để tống sạn mật ra mà trong 1 năm,
nên áp dụng phương pháp này 1-2 lần (khoảng 6 tháng nên làm 1 lần) để tống hết
những cặn bã trong gan mật ra, vừa làm sạch cho gan mật vừa có khả năng ngăn
ngừa được sỏi mật hình thành sau này.
Theo
từ điển Larouse thì QUẢ TÁO (Pomme – Malus Communis) thường dùng trong trường
hợp táo bón và đôi khi được dùng trị bệnh Gout (thống phong), phong thấp mạn
tính.
Tuy nhiên trên
lâm sàng chúng tôi nhận thấy:
+ Nước Táo có tác
dụng làm cô đặc sạn mật lại thành khối.
+ Dầu đậu nành có
tác dụng làm giãn cơ ở ống dẫn mật để tống sạn ra.
Có nhiều người
mới uống đến ngày thứ 2 hoặc thứ 3 đã thấy ra sạn.
+ Ghi
chú: Dựa vào mầu sắc của cục sạn, có thể biết được thời gian hình thành của cục
sạn:
. Nếu cục sạn ra
có mầu nâu hoặc nhạt là sạn mới hình thành.
. Nếu cục sạn ra
có mầu xanh đa số là đã lâu năm.
|