|
| |
SINH NON
Có thai mới khoảng 5~7
tháng, mà đã muốn ra gọi là Sinh Non (Tiểu Sản).
Sách ‘Y Tôn Kim Giám’ định
nghĩa rằng: “Thai 5-7 tháng, đã thành hình tượng mà bị đẩy ra gọi là ‘Tiểu
Sản’.
Tương đương trong phạm vi
Sinh Non của YHHĐ.
Nguyên Nhân
Sinh Non chủ yếu do thai
động không yên và có thai mà ra huyết gây nên. Thường do sinh hoạt tình dục quá
mức, hoặc vì uất giận khiến cho thai bị động, hoặc vì khí huyết hư yếu không
dinh dưỡng được thai, hoặc vì chấn thương té ngã làm tổn thương thai, hoặc vì
khí hậu nóng quá làm tổn thương đến thai, đều có thể gây nên sinh non.
Sách ‘Y Tôn Kim Giám' cho
rằng: Đàn bà có thai mà mạch Xung, Nhâm bị hư tổn thì thai không giữ vững được
hoặc vì giận dữ làm tổn thương Can, hoặc sinh hoạt tình dục quá mức làm cho
Thận bị tổn thương, hoặc vì thai khí không vững chắc sẽ dễ sinh ra bất an.
Sách ‘Y Tôn Kim Giám’ cũng
cho rằng: Hoặc sau khi có thai mà sinh ra chứng khác, ảnh hưởng đến thai khí,
nên thai không yên, hoặc vấp ngã, va chạm, ngã từ cao xuống, làm tổn thương đến
thai, gây nên sinh non.
Nếu sau khi sinh non mà về
sau khi thụ thai cũng vẫn như thế thành ra thói quen thì gọi là Quen Dạ Sinh
Non..
Nguyên Tắc Điều Trị
Phương pháp chữa trị là
trước khi chưa truỵ thai, phải theo nguyên tắc chữa trị về ‘Thai Động Không
Yên’ và ‘Lậu Thai Ra Huyết’.
Chữa trị bệnh chứng sau khi
sinh non, phần nhiều thấy có hai chứng: Một là huyết ra không dứt, hai là huyết
ngưng lại không ra.
Ra huyết quá nhiều không
ngừng, phần nhiều là kinh mạch bị tổn thương, mà khí bị hư yếu, không thể nhiếp
huyết được, cần đại bổ khí huyết để giữ thai lại cho khỏi ra. Huyết ngừng lại
không thông gây nên đau, đó là thứ huyết xấu bế tắc lại không lưu thông lại kèm
có ngoại tà, cần dùng phép đạo ứ, khứ trệ, ôn kinh, hoạt huyết.
Triệu Chứng
+ Khí Hư: Sau
khi sinh non, sắc mặt trắng nhạt, tinh thần mỏi mệt, tiếng nói yếu như không có
sức, mạch Vi, Nhược.
Điều trị: Dùng bài Bổ Trung
Ích Khí Thang hoặc bài Quy Tỳ Thang gia vị.
+ Huyết Hư: Sau
khi sinh non, sản dịch ra rất ít hoặc không ra, bụng dưới đau cứng, đè không
xuống, đau dữ dội, lưỡi hơi xanh, mạch Trầm Thực mà Sắc.
Điều trị: Dùng bài Sinh Hoá
Thang và Thất Tiếu Tán.
Một Số Bài Thuốc Kinh
Nghiệm
+ Thỏ Ty Cố Thai
Tiễn (Vương Tu Hỷ Lâm Chứng Bút Ký):Đỗ trọng (sao), Bạch thược đều 9g, Tục đoạn,
Kinh giới huệ (sao đen), A giao đều 6g, Hoài sơn (sống), Thỏ ty tử, Thục địa đều
15g, Cam thảo (chích) 3g, Ngải diệp 4g. Sắc uống.
Bổ Thận, cố thai, dưỡng
huyết, chỉ huyết. Trị có thai ra huyết (thai lậu), doạ sẩy thai.
+ Kiện Tỳ Ích Vị
Thang 2 (Hồ Nam Trung Y Tạp Chí 1986, 2): Đảng sâm, Sơn dược, Hà thủ ô (chế),
Tang ký sinh đều 15g, Bạch truật, Đỗ trọng (sao), Tục đoạn đều 10g. Sắc uống.
TD: Bổ khí, kiện Tỳ, ích
Thận, cố thai. Trị thai lậu, doạ sinh non.
Đã trị 131 ca, có kết quả
124, không kết quả 7, đạt tỉ lệ 96,60%.
+ Cố Thai Ẩm
(Trung Y Tạp Chí): Tang ký sinh, Thỏ ty tử, Khiếm thực đều 12g, Tục đoạn, Đỗ
trọng (sao), Thái tử sâm, Sơn thù nhục, Thạch liên nhục, Thục địa, Lạn ma căn,
Xuân căn bì đều 10g, Sơn dược 15g, Thăng ma 6g. Sắc uống.
TD: Ích Thận, cố thai. Trị
thai lậu, sinh non.
Đã trị 76 ca, khỏi 60. Đạt
tỉ lệ 78,95%.
+ Trữ Căn Hợp Tễ
(Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn): Trữ ma căn 15g, Tang ký sinh, Tục đoạn,
Lục tâm mã đậu đều 30g, Bạch thược, A giao đều 12g, Phcuj linh, Hoàng cầm đều
9g. Sắc uống.
TD: Tư Thận, thanh nhiệt, an
thai. Trị thai lậu, sinh non.
Đã trị 110 ca, khỏi 51, có
hiệu quả ít 29, chuyển biến tót 23, không kết quả 7. Đạt tỉ lệ 94%.
|