|
| |
NẤC
(Ách nghịch -
Cách Cơ Kinh Luyến - Hoquet - Hiccough)
Đại Cương
Nấc là tình
trạng khí nghịch lên, trong họng phát ra tiếng ngắn và mau, làm cho người ta
không tự chủ được.
Chứng này phát
ra một cách tự nhiên, nhiều khi không dùng thuốc cũng khỏi.
Nấc lâu ngày
cần phải điều trị.
Nấc thường
xuất hiện với các chứng bịnh mạn cấp khác là một trong những triệu chứng dẫn đến
bịnh nghiêm trọng.
Người đang bị
bệnh nặng, có xuất hiện dấu nấc thường là dấu hiệu sắp chết.
Nguyên Nhân
1-Theo YHHĐ
(sách Sổ Tay Thầy Thuốc Thực Hành): Chủ yếu là do cơ hoành bị co thắt, cùng lúc
đó cơ thành bụng và cơ ngực bị co lại làm cho không khí bị đưa ra ngoài đi ngang
thanh môn bị co lại phát ra thành tiếng.
. Tổn thương
trong não (não viêm, u não...)
. Màng phổi
góc sườn - Cơ hoành bị viêm.
. Màng tim
viêm.
. Có khối u ở
trung thất.
. Niêm mạc bao
tử viêm, màng bụng viêm.
. Ngộ độc: urê
huyết cao, nhiễm Acid... thuốc INH, Streptomycine....
. Có thai
. Sau phẫu
thuật nhất là phẫu thuật ở bụng, ống tiêu hóa.
2- Theo
YHCT
Sách Nội Khoa
Học Trung Y Thượng Hải và Thành Đô (Tứ Xuyên) cùng nêu ra các nguyên nhân sau:
a) Do ăn uống
không điều độ:
+ Ăn uống
nhiều thức ăn sống, lạnh, hoặc uống các loại thuốc mát (lương), lạnh (hàn) làm
cho khí lạnh ngưng lại bên trong, vị dương bị cản trở gây ra nấc.
+ Ăn nhiều
thức ăn cay nóng, hoặc uống các loại thuốc nóng làm cho táo nhiệt bên trong gây
ra nấc.
b) Do bịnh
nhiệt làm cho tân dịch bị khô, hỏa nhiệt tích lại ở bên trong, hỏa uất, khí
thăng gây ra nấc.
c) Do tinh
thần bị uất ức, tình chí không thỏa mãn, ưu tư, uất kết làm cho Can khí hoành
nghịch gây ra nấc.
d) Do Tỳ và
Thận hư yếu: Hạ nguyên quá suy, Thận không nạp được khí, khí nghịch lên gây ra
nấc.
e) Do lao lực
quá độ làm cho khí bị hao tổn hoặc người già yếu bịnh ốm đau lâu ngày, Tỳ Vị
dương suy, thanh khí không thăng, trọc khí không giáng, gây ra nấc.
Triệu Chứng
1-Nấc Do Vị Bị
Hàn (Hàn Tà Công Vị): tiếng nấc trầm, thưa, có lực vùng thượng vị đầy, gặp ấm
nóng thì dễ chịu, gặp lạnh thì phát nấc nhiều hơn, lưỡi trắng mỏng, mạch Trì
Hoãn (NKHT.Hải) hoặc Hoãn (NKHT.Đô).
2- Nấc Do Vị
Hỏa Nghịch Lên (Vị Hỏa Thượng Nghịch): tiếng nấc trong, miệng hôi, phiền khát,
tiểu ngắn, đỏ, đại tiện khó, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch Hoạt Sác.
3- Nấc Do Tỳ
Thận Dương Hư: tiếng nấc ngắn và yếu, sắc mặt trắng bệch, tay chân mát, ăn ít,
mệt mỏi, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Tế.
4- Nấc Do Vị
Âm Hư (NKHT.Hải): tiếng nấc nhanh nhưng không liên tục, miệng khô, phiền khát,
buồn bực, lưỡi khô, đỏ, mạch Tế Sác.
5- Nấc Do Khí
Trệ Huyết Ứ (NKHT.Đô): nấc kéo dài không hết, ngực sườn đầy đau, bụng đau có
lúc, ăn ít, không tiêu rêu lưỡi có đốm ít huyết, mạch Huyền Hoạt hoặc Sáp.
6- Nấc Do Đờm
Thấp Ngưng Trệ (NKTYHG.Nghĩa): tiếng nấc thưa, ngực đầy, đờm nhiều, hoa mắt,
phiền muộn, mạch Nhu Hoãn.
Điều Trị
1) Nấc do Vị Hàn: Ôn trung
tán hàn (NKHT.Hải) hoặc Ôn trung giáng nghịch (NKHT.Đô).
(NKHT.Hải +
T.Đô: Đinh Hương Tán (Tam Nhân Cực - Bịnh Chứng Phương Luận Q.1): Đinh hương 4g
Lương khương 2g, Thị đế 4g, Chích Thảo 2g.
Tán bột. Mỗi
lần dùng 6g, uống với nước nóng.
* Đinh Hương
Thị Đế Thang (Chứng Nhân Mạch Trị, Q 2): Đinh hương, Nhân sâm, Thị đế, Sinh
Khương. Sắc uống nóng.
GT: Đinh
hương, Thị đế ôn vị, tán hàn, giáng khí, chỉ nghịch; Nhân sâm bổ khí, ích vị;
Sinh khương ôn trung, tán hàn. Các vị phối hợp có tác dụng ôn trung, giáng
nghịch, ích khí, hoà vị.
* Đinh Hương
Thị Đế Tán (Thế Y Đắc Hiệu Phương Q.4): Nhân Sâm 40g, Bán Hạ 40g, Thị Đế 40g,
Phục Linh 40g, Lương khương 40g, Sinh Khương 60g, Quất Bì 40g, Đinh hương 40g,
Cam Thảo 20g. Tán bột. Mỗi lần dùng 12g, Sắc uống nóng.
- Thạch Liên
Hoàn (Thánh Tế Tổng Lục, Q.47): Thạch Liên Nhục (bỏ tim) 40g, Phụ tử (nướng, bỏ
vỏ cuống) 40g, Can Khương (nướng) 40g. Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 6-8g
- Quy Khí Ẩm (
Cảnh Nhạc Toàn Thư, Q.51): Thục Địa 12 - 20g, Can Khương 4g, Hoắc Hương 6g, Phục
Linh 8g, Đinh hương 4g, Chích Thảo 3,2g, Biển Đậu 8g, Trần Bì 4g. Sắc uống ấm
lúc đói.
- Hàn Chứng
Ách Nghịch Thang (Thiên Gia Diệu Phương): Thị Đế 50g, Can Khương10g, Quất hồng
25g, Nhân Sâm 50g, Đinh hương 10g, Chích Thảo 10g, Bán Hạ 10g, Ngô Thù 10g. Sắc
uống.
- Trầm Hương,
Bạch Đậu Khấu, Tía Tô đều 40g. Tán bột. Ngày uống 2- 2,8g với nước sắc Thị Đế
(Hành Giản Trân Nhu - Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh):.
2) Nấc do Vị
Hỏa nghịch lên: -NKHT.Hải: tiết nhiệt, thông phủ. -NKHT. Đô: thanh Vị, giáng
nghịch.
-NKHT.Hải:
Tiểu Thừa Khí Thang (Thương Hàn Luận): Đại Hoàng 8 - 16g, Hậu phác 8 - 16g, Chỉ
Thực 8 - 16g. Sắc uống.
(Đại Hoàng, Chỉ Thực, Hậu
phác để tiết nhiệt, thông trường vị, khoan trung, hành khí.)
-NKHT. Đô:
Trúc Nhự Thang (Tập Nghiệm Phương): Trúc Nhự 12g, Bán Hạ 20g, Quất
bì 12g, Sinh Khương 16g, Phục Linh 16g. Sắc uống.
- Nội Khoa
Trung Y Học Giảng Nghĩa: Đan Khê Tả Tâm Thang (Đan Khê Tâm Pháp)
Hoàng Liên
12g, Cam Thảo 4g, Bán Hạ 8g, Sinh Khương 3 lát. Sắc uống.
- Hiện Đại
Trung Y Học Nội Khoa: An Vị Ẩm (Cảnh Nhạc Toàn Thư, Q.57)
Trần Bì
4g,Mộc Thông 4g, Hoàng Cầm 8g, Sơn Tra 12g, Trạch Tả 4g, Thạch Hộc 20g, Mạch Nha
12g. Sắc uống lúc đói
+ Giáng Nghịch
Hóa Trọc Phương (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Đại Giả Thạch 12g, Tỳ Bà
Diệp 12g, Trúc Nhự 12g, Tuyền Phúc Hoa 12g, Phục Linh 12g, Chỉ Xác 8g, Bán Hạ
(chế) 12g, Đinh hương 2g, Lâu Bì 12g, Trần Bì (sao) 8g, Thị Đế 7 cái Bối mẫu
12g, Bạch Tật Lê (bỏ gai, sao) 12g. Sắc uống.
+ Trị Can Khí
Hoành Nghịch Ách Nghịch Bất Chỉ Phương (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương):
Tuyền Phúc Hoa 12g, Hoàng Liên 6g, Chỉ Xác 12g, Đại Giả Thạch 12g, Mộc Hương 6g,
Ô Dược 12g, Ngô Thù Du 2g, Tân Lang 6g, Sa Môn 12g, Kim Linh Tử 12g, Diên Hồ
8g. Sắc uống.
+ Nhiệt
Chứng Ách Nghịch Thang (Thiên Gia Diệu Phương): Thị Đế 50g, Câu Đằng 40g, Bạch
thược
35g, Địa Long 25g, Quất Hồng 25g, Trúc Nhự 25g, Mạch môn 35g, Thạch cao sống
40g, Toàn Yết 7,5g, Cam thảo 10g. Sắc uống
3- Nấc do Tỳ
Thận Dương hư: -NKHT.Hải: Ôn bổ Tỳ, Thận, hòa Vị, giáng nghịch.
-NKHT. Đô: Ôn
trung, kiện Tỳ, giáng nghịch, chỉ ách.
-NKHT.Hải: Phụ
Tử Lý Trung Thang (Cục Phương): Phụ Tử 4g, Bạch Truật 8g, Chích Thảo 4g, Đảng
Sâm 12g, Bào Khương 4g. Sắc uống.
(Bào Khương
để trừ hàn, Bạch Truật kiện Tỳ, Đảng Sâm bổ khí, Chích Thảo hòa trung, Phụ Tử
hợp với Bào
Khương để hồi dương cứu nghịch).
-NKHT. Đô:
Tuyền Phúc Giả Thạch Thang hợp với Lý Trung Thang: Tuyền Phúc Hoa
12g, Đại Giả Thạch 16g, Bán Hạ 12g, Nhân Sâm 8g, Chích Thảo 12g, Sinh
Khương 12g, Táo 12 trái, Bạch Truật
8g. Bào Khương 4g Sắc uống
- HĐTYNK. Học:
Đại Bổ Nguyên Tiễn (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Đảng Sâm 30g, Hoài Sơn 10g, Sơn Thù
nhục 4g, Đương Quy 16g, Đỗ Trọng 10g, Chích Thảo 4g, Thục Địa 16g, Câu Kỷ
Tử 10g. Sắc uống
- Trị Hạ Hư
Xung Khí Thượng Nghịch Hư Ách Phương (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương):
Long Cốt 16g, Thiết Lạc 40g, Câu Kỷ Tử 12g, Mẫu Lệ 16g, Bạch Vi 8g, Tử
Thạch Anh 16g, Miếp Giáp (nướng) 16g, Trầm hương 3,2g, Nhục thung dung
16g, Hồ Đào Nhục 16g, Thục Địa 24g, Cáp Xác 16g. Sắc uống.
- Thị Tiềm Tán
(Chính Hòa Bản Thảo, Q.12): Thị Tiềm, Đinh Hương, Nhân Sâm. Lượng bằng nhau.Tán
bột. Ngày uống 8- 12g sau bữa ăn.
4- Nấc do Vị
Âm hư: Sinh tân, dưỡng Vị.
Ích Vị Thang
(Ôn Bệnh Điều Biện): Sa Sâm 12g, Sinh Địa 20g, Mạch Nha 4g, Mạch
Môn 20g, Ngọc Trúc 6g. Thêm Tỳ Bà Diệp, Thạch Hộc, Thị Đế, Sắc uống.
Quất Bì Thang
(Loại Chứng Hoạt Nhân Thư, Q.17): Cam Thảo 20g Nhân Sâm 10g Trần Bì (bỏ xơ
trắng). Tán bột. Mỗi lần dùng 20g, thêm Trúc Nhự một nắm (20g), gừng sống 4 lát,
táo 1 trái.Sắc uống nóng.
Bán Hạ Sinh
Khương Thang (Loại Chứng Hoạt Nhân Thư,.Q.18): Sinh Khương 20g, Bán Hạ 12g.
Sắc uống ấm.
5- Nấc do khí
trệ, huyết ứ: Điều khí, hoạt huyết.
1) Cách Hạ
Trục Ứ Thang (Y Lâm Cải Thác): Ngũ Linh Chi 12g, Cam Thảo 12g, Xuyên Khung
8g, Đương Quy 12g, Ô Dược 8g, Hương Phụ 6g, Đào Nhân 12g, Đan Bì 8g, Chỉ
Xác 6g, Hồng Hoa 12g, Xích thược 8g, Huyền Hồ 4g. Sắc uống.
2) Hội Yếm
Trục Ứ Thang (Y Lâm Cải Thác, Q.Hạ): Đào Nhân (sao) 20g, Sinh Địa 16g, Sài Hồ
4g, Hồng Hoa 20g, Đương quy 8g, Huyền sâm 4g, Cam Thảo 12g, Chỉ Xác 8g, Cát
cánh 12g, Xích thược 8g. Sắc uống.
6- Nấc Do Đờm
Thấp Ngưng Trệ Hóa đờm, lợi thấp. Dùng Tiểu Bán Hạ Gia Phục Linh Thang (Kim
Qũy Yếu Lược): Bán Hạ 24g, Sinh Khương 20g, Phục Linh 12g. Sắc uống
MỘT SỐ PHƯƠNG
ĐƠN GIẢN
- Làm cho người nấc phải
hoảng sợ bất thình lình hoặc làm cho họ tức giận lên (Việt Nam dươc Học).
- Uống môt ly
nước, hớp từng ngụm nhỏ và nhịn thở (Phòng Ngừa Và Trị Bệnh 1971).
- Hít vào thật
mạnh và nín thở trong một thời gian khá lâu (Y Học Cẩm Nang).
- Dùng một túi
giây kín và thở vào trong túi đó, thán khí thở ra và giữ lại trong túi sẽ làm
cho nấc cục sẽ tự nhiên hết.
Sách Nội Khoa
Học Thành Đô giới thiệu một số bài thuốc đơn giản, ít vị chữa nấc như sau:
+ Nấc do hàn:
- Tạo Giác,
tán bột, thổi vào mũi cho hắt hơi.
- Xuyên Tiêu
12g, tán bột, trộn với hồ làm viên. Mỗi lần nấc uống 4 - 6g với rượu.
- Ngô Thù 4g,
Thanh Bì 8g, Sinh Khương 12g. Sắc uống.
+ Nấc do
nhiệt:
- Lô Căn 12g,
Thị Đễ 12g,Sắc uống.
- Hương xị
10g, Uất Kim 6g, Xạ can 10g, Tỳ Bà Diệp 12g, Thông Thảo 4g, Sắc uống.
- Hoàng Liên
2g, Tô Diệp 2g. Sắc uống ít một.
- Phục Long
Can hòa nước uống.
+ Nấc do khí
trệ, huyết ứ:
-Tuyền Phúc
Hoa 20g, Tây Thảo 20g.Sắc uống.
-Đại Hoàng
(sao) 10g. Sắc uống.
PHỤ LỤC:
MỘT SỐ BÀI THAM KHẢO CHỮA NẤC
------***------
+ Ách Nghịch
Thang (Thiên Gia Diệu Phương):
Thạch Quyết
Minh (sống) 30g, Đảng Sâm 30g, Thị Đế 30 cái.
Sắc uống.
TD: trị các
loại nấc.
GC:Nấc do phù
não sau mổ, tăng áp lực sọ não, dùng bài này cũng có hiệu qủa phần nào.
+ Đinh Hương
Thị Đế Tán (Vệ Sinh Bảo Giám Q.12): Đinh Hương, Thị Đế, Thanh Bì,Trần Bì. Lượng
bằng nhau. Tán bột. Mỗi lần dùng12g. Sắc uống ấm.
TD: Trị các
chứng nấc.
+ Nhân Sâm
Bạch Truật Thang (Đan Khê Tâm Pháp Q.3): Nhân Sâm, Hoàng Cầm, Sài Hồ, Can
Khương, Kỷ Tử Nhân, Chích Thảo, Bạch Truật, Phòng Phong, Bán Hạ (chế), Ngũ Vị
đều 3 lát. Sắc uống.
TD: Trị nấc
do khí hư.
+ Sài Hồ Thang
Gia Vị (Chứng Nhân Mạch Trị Q.2): Sài Hồ, Hoàng Cầm, Trần Bì, Cam Thảo, Sơn
Chi, Đan Bì. Sắc uống.
TD: Trị nấc do
Can Đởm hỏa bốc lên.
+ Khương Hoạt
Tán (Tô Thẩm Lương Phương, Q.5): Khương hoạt, Phụ Tử (nướng), Hồi Hương (sao
Sơ) đều 20g, Mộc Hương,Can Khương (nướng) đều 4g. Tán bột. Mỗi lần dùng 8g thêm
ít muối, sắc uống nóng.
TD: trị nấc do
âm hàn.
+ Giáng Nghịch
Chỉ Ách Thang (Trung Y Trị Liệu Phối Phương Tễ): Đại Giả Thạch 3,2g, Trần bì
20g, Tuyền Phúc Hoa, Trúc Nhự, Thái Tử sâm đều 16g, Đinh hương, Thị Đế, Thiên
Môn, Mạch Môn, Cam Thảo, Tỳ Bà Diệp đều 12g. Sắc uống.
TD: Trị nấc mà
tay chân không lạnh, mạch Tế.
+ Thuận Khí
Tiêu Trệ Thang (Thọ Thế Bảo Nguyên Q.3): Trần Bì 8g, Bán Hạ (sao gừng) 8g, Bạch
Linh (bỏ vỏ) 12g, Đinh hương 1,2g, Thị Đế 2 cái, Hoàng Liên (sao gừng) 0.8g Thần
Khúc (sao) 8g, Hương Phụ 8g, Bạch Truật 6g, Trúc Nhự 16g, Cam Thảo 3,2g. Thêm
gừng sống 5 lát, Sắc uống.
TD: Trị ăn vào
làm khí trệ gây ra nấc.
ĐIỀU TRỊ NẤC
BẰNG CHÂM CỨU
-CCHT.Hải: Lý
Khí, Giáng nghịch.
*Huyệt chính:
Thiên Đột + Cách Du + Nội Quan.
*Thực Chứng:
Thêm Cự Khuyết, Thiên xu, Hành Gian, Nội Đình, Chiên Trung.
*Hư chứng:
thêm Quan Nguyên, Trung Quản, Khí Hải, Túc Tam Lý, Chiên Trung.
-Ý Nghĩa:
Thiên Đột hội của Âm Duy và Nhâm Mạch, để bình giáng nghịch khí, thêm Nội Quan
để
làm thông ngực và Hoành cách mô. Cách Du là Bối du huyệt của Hoành cách mô, trị
các bịnh của cơ hoành. Chiên Trung là huyệt hội của khí để lý khí, Cự khuyết
thông ngực và cơ hoành; Thiên Xu thông khí ở phủ (Vị), Hành Gian tả hỏa của Can,
Nội Đình thanh nhiệt ở Vị, Quan Nguyên, Khí Hải để bổ Thận Khí, Trung Quản, Túc Tam Lý để bổ trung khí.
- CCHV.Nam:
Điều hòa Vị khí, thông cơ hoành.
Châm Nội Quan
+ Túc Tam Lý + Cự Khuyết + Cách Du.
- CCT. Liệu
Học:
*Thực chứng:
Cự khuyết, Cách Du, Chiên Trung, Túc Tam Lý (tả).
*Hư chứng:
Quan Nguyên, Trung Quản, Khí Hải,Túc Tam Lý (bổ).
-Khoái Tốc
Châm Thích Liệu Pháp: châm kích thích mạnh huyệt Thiên Đột. Nếu không bớt, phối
hợp thêm Nội Quan hoặc Trung Quản.
- Phổ Tế:
Chiên Trung, Du Phủ, Vị uyển (Trung quản) đều cứu 10 tráng.
- Y Học Cương
Mục: Kỳ Môn, Chiên Trung, Trung Quản đều cứu.
- Thần Cứu
Kinh Luân: Du Phủ, Phong Môn, Kiên Tĩnh, Thừa Tương, Chiên Trung, Trung Quản, Kỳ
Môn, Khí hải, Túc Tam Lý, Tam Aâm Giao. Nhũ căn đều cứu 3 tráng.
- Tứ Bản Giáo
Tài Châm Cứu Học: Nội Quan, Túc Tam Lý, Cự Khuyết, Cách Du.
- Trung Quốc
Châm Cứu Học Khái Yếu: Túc Tam Lý, Trung Quản, Nội Quan, Cách Du, Thiên Đột.
- Trung Hoa
Châm Cứu Học: Tỳ Du, Vị Du, Trung Quản, Túc Tam Lý, Công Tôn.
-Châm Cứu Học
Hong Kong: Cưu vĩ, Thượng Quản, Nội Quan, Khí Hải, Nhật Nguyệt, Quyết Âm Du, Đốc
Du, Cách Du, Y Hy, Cách Quan, Thạch Quan.
-
Châm Cứu Học Thực Hành của Thượng Trúc: châm Thượng Quản, Trung Quản, Hạ Quản,
Túc Tam Lý, đều 1,5 thốn, bình bổ, bình tả kưu kim 30 phút, từ từ rút kim. Hoặc
Dưỡng Lão 0,3 - 0,5 thốn vê kim, rút ra, rồi châm Nội Quan 0,5 - 1 thốn, bình bổ
bình tả, lưu kim 20 phút.
+ Hoà Vị,
giáng nghịch làm chính, hỗ trợ có thể thêm Tán hàn, Thanh nhiệt, Tư âm.
Trung quản,
Nội quan, Túc tam lý, Cách du.
(Trung quản là
huyệt mộ của Vị, Túc tam lý là huyệt hợp của kinh Vị, hai huyệt phối hợp, châm
tả có thể thanh nhiệt, giáng khí; Châm bổ có thể ích khí, ôn trung; Nội quan là
huyệt lạc của tâm bào, thông với mạch Âm duy, có thể hoà trung, giải uất; Cách
du lợi cách, giáng nghịch).
Hàn dùng cứu
hoặc châm bổ để ôn dương, tán hàn. Nhiệt chứng, Can khí phạm Vị, Vị âm suy châm
tả hoặc bình bổ bình tả.
Vị hàn thêm
cứu Lương môn.
Vị nhiệt thêm
châm tả Hãm cốc.
Dương hư thêm
cứu Khí hải.
Âm hư thêm cứu
Thái khê.
Can khí hoành
nghịch thêm tả Kỳ môn,Thái xung (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
Nhĩ Châm
Chọn dùng
Cách, Vị, Thần môn, Dưới đồi, Giao giảm, Can. Tuỳ theo cơn nấc nặng nhẹ để chọn
cách châm hoặc ấn huyệt. Nấc liên tục, chứng trạng nhẹ: dùng phương pháp day ấn
huyệt. Chứng trạng nặng: dùng châm, kích thích mạnh, lưu kim 30 phút. Nếu nấc
lâu không hết có thể dùng cách lưu kim (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
+ Dùng ngón tay cái để vào
huyệt Toàn trúc, 4 ngón tay kia để phía trên tai, vùng huyệt Suất cốc, ấn day
nhẹ hoặc mạnh từ 3 – 5 phút. Trị 30 ca, chỉ có một ca không khỏi (Day Ấn Huyệt
Toàn Trúc Trị 30 Trường Hợp Nấc’ (Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí 1987, 56 (3):
18).
Bệnh Án Nấc Do Can Khí Phạm
Vị
(Trích
trong ‘Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn Thư).
Kha X, nữ, 23 tuổi.
Khám lần đầu bị nấc kéo dài hơn một tháng, gần đây muốn tăng nặng hơn, ngay
trong lúc nói cũng không ngừng nấc; Vị quản trướng đầy, đau âm ỉ, lan tỏa tới
hai bên sườn,
kém ăn, có lúc ứa ra nước chua, miệng đắng và khô, đầu chướng đau, chất lưỡi
nhạt, bệu, hơi xanh, rêu lưỡi nhớt, hơi vàng, mạch Nhu Tế. Bệnh do tình chí
không thoải mái, ăn uống không điều hòa đến nỗi Can khí cùng với thực trệ cùng
bị nghẽn tắc, Vị mất hòa giáng. Trước hết cần giáng nghịch hòa Vị.
Dùng Đinh hương 16g, Thị đế 6g, Trúc nhự 8g, Toàn phúc hoa 12g, Đai giả thạch
40g, Bán hạ 12g, Hoàng liên 8g, Trần bì 6g, Tỳ bà diệp 12g.
Khám lần hai: Sau khi uống 2 thang, nấc giảm dần, đến nay không tái phát, nhưng
Vị quản vẫn cảm giác chướng đầy, rêu lưỡi bớt nhớt dần. Theo đơn cũ có gia giảm,
uống thêm 4 thang nữa thì khỏi.
Nhận xét: Bệnh án này là Can khí phạm Vị kèm theo thực trệ dẫn đến ách nghịch
kéo dài một tháng không dứt, so với loại Vị nhiễm hàn lạnh nặng hơn, cho nên mới
dùng các phương Đinh Hương Thị Đế Thang, Toàn Phúc Đại Giả Thang v.v... đều là
những bài thường dùng để chữa ách nghịch.
Trong đó dùng một vị Hoàng liên, lấy vị đắng lạnh để giáng nghịch là vì rêu lưỡi
hơi vàng, miệng đắng mà khô, đó là hiện tượng khí uất có kiêm thực trệ và có xu
hướng hóa hỏa nên mới dùng tới Hoàng liên. Nếu mới bị bệnh và thuộc Hàn tính thì
không
nên dùng.
Ngô X, nam, 62 tuổi.
Khám lần đầu: Bị nấc liên tục hai ngày không dứt, hôm qua nôn ra chất dính đặc
mầu cà phê rất nhiều, hơi thở ngắn, mỏi mệt, khát nước nhưng không uống nhiều,
ho, muốn nôn, mạch Tế Sác mà Kết Đại, đầu lưỡi đỏ khô, gốc lưỡi nhớt. Đây là
loại khí âm đều suy, đàm nhiệt nghẽn ở trong, có hiện tượng Vị bại.
Điều trị theo hướng ích khí dưỡng âm, hóa đàm hòa trung.
Dùng Di sơn sâm 8g, Mạch đông 12g, Ngũ vị tử 4g, Bạch truật 12g, Phục linh 12g,
Bán hạ 12g, Trúc nhự 12g, Trần bì 6g, Viễn chí 4g.
- Khám lần thứ hai: Sau khi uống 2 thang đã yên cơn nấc, ho cũng bớt, ăn tạm
được, mạch Tiểu, đầu lưỡi đỏ, gốc lưỡi nhớt. Vẫn theo phép điều trị trước, dùng
đơn cũ thêm Tang bạch bì; Nam sa sâm đều 12g.
Nhận xét: Bệnh án này thuộc loại Phế nham (ung thư) khá nặng, tuổi cao, khí
suy, đoản hơi, mỏi mệt, mạch Tế Sác mà Kết Đại, biện chứng là khí âm đều suy,
điều trị theo phép ích khí dưỡng âm, hóa đàm hòa trung, sau khi uống 2 thang
khỏi luôn ách nghịch, về sau tiếp tục điều trị Phế nham.
|