|
| |
HỘI CHỨNG MÃN KINH
(Tuyệt Kinh Tiền Hậu Chư Chứng - Menopause)
Đại Cương
Người phụ nữ thường vào thời kỳ trước và sau khi tắt kinh xuất hiện một số triệu
chứng rối loạn thần kinh thực vật như đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, ra mồ hôi,
nóng trong người, mặt đỏ, bứt rứt trong người, cảm giác chân tay tê hoặc kiến bò
ngoài da, hồi hộp hay quên, kinh nguyệt không đều... do nội tiết tố nữ giảm
thiểu (vì buồng trứng giảm tiết nội tiết tố và số lần rụng trứng giảm dần đến
hết, các tuyến âm đạo giảm xuất tiết nên âm đạo khô, lúc giao hợp đau, có thể
dễ gây viêm âm đạo hoặc do thiếu nội tiết tố nữ mà xương loãng dễ bị gãy xương.
Thời kỳ tiền mãn kinh thường bắt đầu từ tuổi 41 - 45, thời gian ngắn có thể từ
5, 7 tháng, dài có thể 1, 2 năm hoặc lâu hơn, có người kéo dài hơn 10 năm. Nhiều
công trình nghiên cứu chứng minh là bệnh nặng nhẹ có liên quan đến trạng thái
thần kinh, tinh thần, tâm lý của người phụ nữ (yếu tố nội tại của con người là
chủ yếu). Tỷ lệ phát bệnh ở người lao động trí óc cao hơn ở người lao động chân
tay.
Cũng gọi là Kinh Đoạn Tiền Hậu Chư Chứng.
Nguyên Nhân
Dựa theo thiên ‘Thượng Cổ Thiên Chân Luận’ (Tố Vấn 1), y học cổ truyền cho rằng
phụ nữ bắt đầu suy từ tuổi 42 (tuổi lục thất, tam dương suy, da mặt khô, tóc
bạc...) và đến tuổi 49 (tuổi thất thất, mạch Xung Nhâm suy, kinh kiệt...) và như
vậy ở khoảng tuổi này là phụ nữ hết sinh đẻ, chức năng tạng phủ suy dần mà chủ
yếu là thận khí suy, người phụ nữ bước vào thời kỳ tiền mãn kinh, thận suy chủ
yếu là tinh huyết suy gây nên âm dương mất cân bằêng, ảnh hưởng đến sự hoạt động
bình thường của các tạng phủ khác và là nguyên nhân chính của hội chứng tiền mãn
kinh.
Thận Âm Hư: Cơ thể vốn bị âm hư, huyết thiếu, trước và sau khi mãn kinh, thiên
quý sắp cạn, tinh huyết suy, lại suy nghĩ, mất ngủ, phần âm và doanh bị tổn
thương hoặc do sinh hoạt tình dục không điều độ, tinh huyết bị hao tổn hoặc do
bệnh mất máu quá nhiều,âm huyết hao tổn, thận âm hư yếu, tạng phủ không được
dinh dưỡng gây nên mãn kinh sớm hoặc muộn.
+ Thận Dương Hư: Cơ thể vốn suy yếu, thận dương hư suy, gây nên mãn kinh sớm
hoặc muộn. Thận khí suy yếu lại kinh sợ quá hoặc sinh hoạt tình dục không điều
độ, làm tổn thương thận khí, mệnh môn hoả suy, tạng phủ không được nuôi dưỡng
gây nên mãn kinh sớm hoặc muộn.
Ngoài ra các yếu tố tinh thần, thể chất, yếu tố dinh dưỡng, sinh đẻ, hoàn cảnh
sinh hoạt lao động của người phụ nữ đều có ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh.
Triệu Chứng
Triệu chứng lâm sàng thường thấy các triệu chứng sau:
+ Rối loạn kinh nguyệt: Bắt đầu kinh đến sớm muộn thất thường, lượng ít, hoặc
nhiều có khi rất nhiều (băng huyết) hoặc ngưng đột ngột.
+ Rối loạn thần kinh thực vật: Nóng sốt, bừng bừng đỏ mặt, ra mồ hôi, hoa mắt,
ù tai, nóng nảy, dễ tức giận hoặc lo nghĩ trầm cảm, lưng gối đau mỏi, đau đầu,
họng khô nóng, miệng khô, nôn, buồn nôn, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, tư tưởng
khó tập trung hoặc chân tay tê rần, cảm giác kiến bò.
+ Rối loạn chuyển hoá: Cơ thể mập ra, lên cân hoặc phù, tiêu chảy.
Chẩn Đoán: Chủ yếu dựa vào:
. Tuổi từ 40 đến 55, có rối loạn kinh nguyệt, kinh kỳ sớm muộn không đều, lượng
nhiều hoặc ít hơn trước đó hoặc đột ngột tắt kinh.
. Mặt đỏ, nóng bừng, ra mồ hôi, người nóng nảy, bứt rứt, váng đầu, hoa mắt, đau
lưng, mỏi gối, bồn chồn, không tập trung tư tưởng.
. Có điều kiện kiểm tra nội tiết tố: lượng Estrogen.
Tiền mãn kinh là thời kỳ mà người phụ nữ dễ mắc nhiều loại bệnh khác cho nên cần
có sự kiểm tra toàn diện như trường hợp kinh ra nhiều cần chú ý loại trừ ung thư
bộ phận sinh dục.
Điều Trị
Hội chứng tiền mãn kinh là một bệnh nội thương chủ yếu do chức năng của tạng
thận suy giảm, âm dương mất cân bằng dần đến sự rối loạn chức năng các tạng phủ
trong cơ thể do đó không thể chỉ dùng thuốc mà phương pháp điều trị phải toàn
diện, kết hợp dùng thuốc và những phương pháp không dùng thuốc như xoa bóp dưỡng sinh, khí công, thái cực quyền và người bệnh phải chủ động có ý
chí tu luyện tinh thần tư tưởng thanh thản (không buồn phiền, không quá lo lắng,
không bực mình tức giận) mới có kết quả tốt.
+ Thận Âm Hư, có thể chia ra:
. Âm Hư Nội Nhiệt: Kinh nguyệt đến sớm, lượng ít, hoặc trễ ra nhiều hoặc tắt
kinh đột ngột, đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, nóng bừng, ra mồ hôi, miệng khô, táo
bón, lưng gối nhức mỏi, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch Tế Sác.
Điều trị: Tư âm, thanh nhiệt. Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Sinh
địa, Thục địa đều
12g, Sơn thù nhục 10g, Đơn bì, Phục linh, Trạch tả, Hoàng bá, Tri mẫu, Địa cốt
bì đều 12g, Sinh Long cốt, Sinh Mẫu lệ, Quy bản (sắc trước) đều 20g.
. Âm Hư Can Vượng: Kinh nguyệt rối loạn, tính tình bứt rứt nóng nảy, dễ cáu
gắt, mắt khô, chóng mặt, đau đầu, ngực sườn đau tức, chân tay run, tê rần hoặc
cảm giác kiến bò, rìa lưỡi đỏ, mạch Huyền, Sác.
Điều trị: Tư thận, bình Can, tiềm dương. Dùng bài Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn Gia
Giảm: Sinh địa 16g, Hoài sơn, Sơn thù, Đơn bì, Bạch linh, Trạch tả, Kỷ tử đều
12g, Cúc hoa 10g,
bạch thược 20g, Sàí hồ (sao dấm) Hạ khô thảo đều 12g, Câu đằng 10g.
Mất ngủ gia Sao táo nhân, Bá tử nhân, Dạ giao đằng.
. Tâm Thận Bất Giao: Rối loạn kinh nguyệt, người nóng, ra mồ hôi, hồi hộp, hay
quên, mất ngủ, hay mơ, khó tập trung tư tưởng, hay buồn vô cớ, lưỡi thon đỏ, ít
rêu.
Điều trị: Tư âm, giáng hoả, giao thông tâm thận. Dùng bài: Mạch Vị Địa Hoàng
Hoàn hợp với An Thần Định Chí Hoàn gia giảm: Sinh địa, Thục địa, Đơn bì, Phục
thần, Bạch linh, Bạch thược, Mạch môn đều 12g, Ngũ vị tử 4g, Viễn chí 4g, Thạch
xương bồ 12g, sao Táo nhân 20g, Hoàng liên 4g, Cam thảo, Đại táo 3 quả.
. Thận Dương Hư: Kinh nguyệt ra nhiều hoặc đến sớm, người mập, chân tay lạnh
mát, sợ lạnh, mệt mỏi, hoặc phù, tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch Trầm
Nhược.
Điều trị: ôn bổ thận dương. Dùng bài Thận Khí Hoàn gia giảm: Thục địa, Hoài
sơn, Sơn thù, Đơn bì, Bạch linh, Trạch tả đều 12g, Chế Phụ tử, Quế nhục đều 4g.
Mệt mỏi, ăn kém thêm Đảng sâm, Bạch truật đều 10g. Ngủ ít thêm sao Táo nhân
20g, Bá tử nhân 10g. Chân phù thêm Xa tiền tử 12g, Trư linh 12g, Bạch mao căn
12g. Kinh nguyệt kéo dài cho uống thêm Sâm tam thất bột 1 - 2g hoà thuốc hoặc A
giao 6g hoà thuốc uống.
. Huvết Ứ Đàm Trệ: Phụ nữ sắp hết kinh, người mập, lên cân, tinh thần mệt mỏi,
bứt rứt, chân tay nặng nề hoặc tê dại, đầu nặng, ngực đau, hồi hộp, mất ngủ,
lưỡi bệu rêu dày, mạch Trầm Hoạt.
Điều trị: Hoạt huyết trừ đàm. Dùng bài Huyết Phủ Trục Ứ Thang hợp Ôn Đởm Thang
gia giảm: Đương qui, Sinh địa, Đào nhân, Sài hồ, Xích thược, Xuyên ngưu tất
đều 12g, Xuyên khung, Hồng hoa, Chỉ xác, Sơn tra, Trúc nhự đều 10g, Sinh hoàng
kỳ 30g, Bạch linh 12g, Trần bì 10g, Cam thảo 3g.
Chế độ ăn chú ý kiêng mỡ, đường, ăn nhiều rau các loại đậu, chế độ ăn cơm gạo
lức, muối mè đen là có lợi để ngăn chặn bệnh phát triển. Chú ý tinh thần thanh
thản vui tươi cởi mở, sinh hoạt điều độ là những điều kiện cần thiết để giảm nhẹ
bệnh.
Đơn Thuốc Kinh Nghiệm
+ Khôn Bảo Thang (Lý Cổn, Bệnh viện Trung y Bắc Kinh): Sinh địa, Bạch thược, Nữ
trinh tử đều 12g, Cúc hoa, Hoàng cầm, Sao Táo nhân đều 9g, Sinh Long cốt 30g,
sắc uống.
Đã trị 330 ca, khỏi: l12 ca (83,9%), tốt 144 ca (43,6%), có tiến bộ 64 ca (
19,4%), không kết quả 10 ca (3%).
+ Cánh Niên Lạc (Tào Tỉnh An, Bệnh viện Phụ sản khoa trường Đại học Y khoa
Thượng Hải): Sài hồ, Khương Bán hạ, Hoàng cầm, Hắc chi tử đều 9g, Đảng sâm 15g,
Chích thảo 6g, Hoài Tiểu mạch, Trân châu mẫu đều 30g, Đại táo 6 quả, Tiên linh
tỳ 12g, sắc uống.
Gia giảm: Cao huyết áp thêm Câu đằng 15g, Địa long, Ngưu tất đều 9g, mất ngủ
thêm Ngũ vị tử 3g, Dạ giao đằng 15g; Khát nước thêm Thạch hộc 12g, Ngọc trúc 9g.
Đã trị 21 ca, khỏi 9 ca (43%), tốt 3 ca (14%), tiến bộ 9 ca (43%).
+ Canh Niên Phương (Nguyễn Đạo Dũng, học viện Trung y Nam Kinh tỉnh Giang Tô):
(a) Sinh địa, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sao táo nhân, Phục linh đều 12g, Long
xỉ 20g, Câu đằng 10g, Liên tâm 1g.
(b) Tiên linh tỳ, Tiên mao, Táo nhân (sao), Phòng kỷ, Phục linh (cả vỏ), xuyên
Tục đoạn, Hợp hoan bì đều 10g, Hoàng kỳ, Đảng sâm đều 12g, Liên tâm 1g, sắc
uống.
Kết quả lâm sàng: Bài (a) trị chứng âm hư (nóng ra mồ hôi bứt rứt) có kết quả
87,8%, Bài (b) trị chứng âm dương đều hư, kết quả 77,8%.
+ Canh Niên Ẩm (Trương Lệ Dung, Bệnh viện Phụ sản khoa Thiên Tân): Sinh địa,
Tthục địa, Phục linh, Sơn dược, Hà thủ ô, Tiên mao đều 12g, Trạch tả, Sơn thù
nhục đều 9g, Đơn bì 6g, sắc uống.
Trị 382 ca thể âm hư Can vượng, có kết quả 98,2%.
Châm Cứu
Huyệt chính: Quan nguyên, Khí hải, Trung quản, Thận du, Hợp cốc, Túc tam lý,
Khúc cốt.
Chọn huyệt theo biện chứng: Can thận âm hư: Thái khê, Can du, Bách hội.
Tâm thận bất giao: Tâm du, Thông lý, Chí thất.
Tỳ thận dương hư: Tỳ du, Âm lăng tuyền, Tam âm giao.
Âm hư can vượng: Chiếu hải, Thái xung, Đại lăng.
- Cách châm: Huyệt chính mỗi lần chọn 4 - 5 huyệt, dùng phép bổ, lưu kim 20 -
30 phút. Châm hàng ngày hoặc cách nhật. Một liệu trình 15 lần.
Tinh thần bứt rứt, tính tình thất thường, phối hợp Đại lăng với Hợp cốc. Lòng
bàn chân tay nóng dùng Chiếu hải phối hợp Lao cung, Dũng tuyền. Mất ngủ thêm
Thần môn, An miên. Phù thũng dùng Quan nguyên, Túc tam lý, Thuỷ phân. Lượng kinh
nhiều thêm Thái xung, Giao tín, Tam âm giao (Bị Cấp Châm Cứu).
+ Can Thận Âm Hư: Tư dưỡng Thận âm, bình Can tiềm dương, giao thông Tâm Thận.
Châm bổ Thận du, Tâm du, Thái khê, Tam âm giao, Thái xung.
(Thận du tư dưỡng Thận tinh; Tâm du ninh Tâm, an thần, hai huyệt phối hợp để
giao thông Tâm Thận, khiến cho thuỷ hoả ký tế. Thái khê là huyệt Nguyên của kinh
Thận, Thái xung là huyệt Nguyên của kinh Can, phối hợp hai huyệt có tác dụng tư
thuỷ, hàm mộc, Can Thận tỉnh dưỡng; Tam âm giao tư dưỡng tam âm, bổ dưỡng mạch
Xung Nhâm, điều kinh, chỉ huyết) (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học).
+ Tỳ Thận Dương Hư: Ôn Thận trợ dương, ôn trung kiện Tỳ. Dùng huyệt Quan nguyên,
Thận du, Tỳ du, Chương môn, Túc tam lý.
(Quan nguyên là huyệt của mạch Nhâm giúp trợ thông Xung mạch, điều kinh, nhiếp
huyết. Hợp với Thận du bổ ích cho mệnh môn hoả, trợ giúp cho tiên thiên. Phối Tỳ
du, Chương môn là theo phép phối Mộ – Bối du để ôn vận Tỳ dương, hợp với yếu
huyệt làm mạnh cơ thể là Túc tam lý để bổ ích trung châu, giúp sức cho việc vận
hoá).
Nhĩ Châm
+ Huyệt thường dùng: Tử cung, Noãn sào, Nội tiết.
- Tuỳ chứng gia giảm: Bứt rứt khó ngủ thêm Thần môn, Dưới vỏ não. Hồi hộp, rối
loạn nhịp tim thêm huyệt Tâm, Tiểu trường. Huyết áp cao: Kích thích Rãnh hạ
huyết áp.
Sắc mặt ửng đỏ, nhiều mồ hôi thêm Giao cảm, Má, Phế.
Phương pháp: Dùng hào châm vê kim nhẹ, lưu kim 30 - 60 phút, châm hàng ngày
hoặc cách nhật, 15 lần là một liệu trình. Có thể kết hợp với thể châm.
Trường hợp gài kim nhỉ hoàn, mỗi lần chọn 2 – 4 huyệt mỗi lần gài 2 - 3 ngày,
dặn bệnh nhân day ấn vào huyệt ngày 3 lần (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Dùng huyệt Buồng trứng, Nội tiết, Thần môn, Giao cảm, Bì chất hạ,
Tâm, Can, Tỳ. Mỗi lần chọn 3~4 huyệt. Lưu kim 20~30 phút (Tân Biên Châm Cứu Trị
Liệu Học).
Giới Thiệu Một Số Kết Quả Dùng Châm Trị Bệnh
Tạ Thị X dùng châm các huyệt Đại chuỳ, Quan nguyên, Khl hải, Trung quản, Thận du,
Hợp cốc, Túc tam lý, Khúc cốt, Ấn đường, trị 30 ca tuổi từ 40 đến 60 tuổi, trong
đó 3 ca chưa hết kinh, 7 ca rối loạn kinh nguyệt, 20 ca đã tắt kinh từ 4 tháng
trở lên. Những triệu chứng chủ quan của bệnh nhân có.: đau đầu, chóng mặt, mất
ngủ, đau bụng, đau lưng, đau, chân, tê lưng, hồi hộp khó thở, ăn kém, tinh thần
u uất, âm đạo ra máu thất thường... Kết quả: 27 ca hết hẳn triệu chứng chủ
quan.
l ca tiến bộ, 2 ca không kết quả (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
|