|
| |
LIỆT NỬA NGƯỜI
BÁN THÂN BẤT
TOẠI - HIÉMIPLÉGIE - HEMIPIEGY
Đại Cương
Sách ‘Tự điển
Điều Trị Học Thực Hành’ định nghĩa: Liệt nửa người là khi mất hoặc giảm vận động
ở một hoặc nhiều dây thần kinh sọ não, một tay, một chân.
Đa số bịnh này
là do di chứng của tai biến mạch máu não gây ra.
Theo báo cáo
của “Hiệp Hội Tim” của Mỹ năm 1977 ở Mỹ có đến 1,6 triệu người bị bịnh này. Và
hằng năm có khoảng 500.000 trường hợp mới bịnh, phần lớn xẩy ra sau 55 tuổi.
YHCT xếp vào
loại Thiên khô, Đại duyệt (Nội Kinh), Bán thân bất toại, Trúng phong, Thốt
trúng, Loại trúng, Não huyết quản Ý ngoại (Kim Quỹ Yếu Lược - Châm Cứu Học
Thượng Hải), Thân hoán (Châm Cứu Đại Thành). Phong phì, Phong ý (Trung Y Học
Khái Luận).
Sách ‘Y Kinh Tố
Hồi Tập’ ghi: “Có người thình lình ngã ra cứng đờ, hoặc một nửa người bị liệt
không cử động được, hoặc tay chân không co lại được, hoặc hôn mê không biết gì,
hoặc chết hoặc không chết, thông thường gọi đó là Trúng Phong mà trong các sách
cũng nhận là Trúng Phong mà chữa”.
Phân Loại
- YHHĐ dựa vào
thể trạng bịnh, chia làm 2 thể:
1- Liệt cứng
với tăng trương lực cơ.
2- Liệt mềm với
giảm trương lực cơ.
- YHCT dựa vào
vùng bịnh và thể bịnh chia ra làm 4 loại:
1- Phong trúng
kinh lạc (chỉ liệt 1/2 người, không có hôn mê)
2- Phong trúng
tạng phủ (liệt kèm hôn mê)
3- Hôn mê kiểu
co cứng là chứng Bế (thực chứng)
4- Hôn mê, liệt
mềm, trụy mạch là chúng Thoát (hư chứng).
Nguyên Nhân
1- Theo YHHĐ
(sách Triệu Chứng Học Nội khoa)
a) Nơi người
lớn tuổi:
1- Chảy máu não
do tăng huyết áp.
2- Nhũn não vì
động mạch bị tắc.
. Trong bịnh xơ
cứng động mạch.
. Hoặc do cục
máu phát sinh tại chỗ hoặc từ xa đưa đến như trong trường hợp van 2 lá.
b) Nơi người
trẻ.
1- Các bịnh
tim.
. Hẹp van 2 lá
. Viêm màng
trong tim cấp, loét sùi hoặc bán cấp ác tính.
2- Viêm động
mạch do giang mai.
3- Do nhuyễn
não hoặc xuất huyết não, do Ha tăng.
c) Nơi trẻ nhỏ.
1- Động mạch bị
viêm do virút.
2- Màng não
hoặc não bị viêm (do vi rut, vi khuẩn hoặc lao).
3- Biến chứng
não của bịnh tai giữa viêm, xương chũn tai viêm.
d) Chung cho cả
3 loại.
1- U não.
2- Áp xe não.
Nguyên nhân
theo YHCT
- Thiên ‘Điều
Kinh Luận’ (Tố Vấn 62) ghi: “Khí và huyết cùng đi lên thì gây ra chứng Đại
Quyết”.
- Thiên ‘Thích
Tiết Chân Tà’ (Linh Khu 75) ghi: “Hư tà xâm nhập vào nửa người đi vào sâu, trú ở
phần Vinh vệ, Vinh vệ yếu thì chân khí bị mấy, chỉ còn lại tà khí, gây nên chứng
Thiên khô”.
- Sách Kim Quỹ
Yếu Lược, mục ‘Trúng Phong’ ghi: “Kinh mạch hư không, phong tà thừa cơ xâm
nhập”.
- Đời nhà
Nguyên, Thanh các tác giả của:
. Sách ‘Hà Gian
Lục Thư’ cho là tâm hỏa quá vượng.
. Sách ‘Đông
Viên Thập Thư’ cho là Chính khí hư.
. Sách ‘Đan Khê
Tâm Pháp’ chủ trương do Thấp, Đờm và Nhiệt gây ra. Các tài liệu trên đều cho
rằng nguyên nhân gây nên trúng phong do yếu tố bên trong (nội tại)
Sau này sách
giáo khoa triển khai thêm:
- Theo sách
NKHT, Hải, trúng phong, thường do:
1- Tình chí bị
tổn thương, sinh hoạt mất bình thường, âm dương trong người bị rối loạn, đặc
biệt thận âm suy yếu không chuyển lên tim được. Tâm hỏa vượng lên, can không
được nuôi dưỡng, can hỏa bốc lên trên, sau cùng can hỏa bạo phát, máu bị dồn lên
gây ra bịnh này.
2- Ăn uống
khống điều độ, lao lực quá sức, tỳ không kiện vận được làm thấp đình trệ lại
sinh đờm, đờm uất hóa nhiệt, can phong cùng đởm quấy nhiễu bên trên, che kín
thanh khiếu, nhập vào kinh lạc mà phát bịnh đột ngột.
3- Do cơ thể
vốn đã bị âm hư dương vượng, đờm trịch quá thịnh lại thêm ngoại cảm phong tà
thức đẩy nội phong gây ra bịnh.
Như vậy Phong
(Can phong), Hỏa (tâm hỏa, can hỏa) đàm (thấp đởm) phong đàm, Khí (khí hư, khí
nghịch), Huyết (huyết ứ) ảnh hưởng lẫn nhau gây ra chứng Trúng Phong.
Theo sách
NKHT.Đô, 2 yếu tố chính gây ra chứng Trúng Phong:
1- Can phong
nội động và liên hệ cả với Thận, Tâm và Tỳ nhưng Can là chính.
2- Khí hư huyết
ứ.
- Sách “Châm
Cứu Học Giảng nghĩa” giải thích:
Nguyên nhân
pháp sinh chứng Trúng phong chủ yếu do Âm Dương Tạng Phủ của người ta bị mất
quân bình mà lại hay lo buồn tức giận, hoặc uống rượu, lao lực, phòng sự...làm
cho phong dương bùng lên, tâm hỏa vượng lên, khí huyết cùng đi lên, đởm trọc,
vít lấy các khiếu, lạc, làm cho công năng của tạng phủ hoặc huyết bị mất gây
thành chứng thoát...
- Theo sách
:Châm cứu Học VN nguyên nhân gây ra trúng phong liệt nửa người thường do:
. Nhân tố bên
ngoài (hư tà tặc phong) tác động đột ngột vào kinh lạc, tạng phủ.
. Nhân tố bên
trong: Hỏa thịnh (do thận thủy suy kém, tâm hỏa bốc lên, bịnh liên hệ với
tâm-thận). Phong dương (do thận âm hư can dương vượng, gây ra nội phong-bịnh
liên hệ với can-thận) Đờm nhiệt (do thấp sinh đờm, đờm uất trệ sinh nhiệt,
nhiệt thịnh sinh phong - bịnh thuốc tỳ vị).
Chủ yếu là do
âm dương mất quân bình, thận âm hư, can dương vượng, đờ, tắc tâm khiếu gây ra.
Triệu
Chứng
a- Theo YHHĐ
Việc đầu tiên
là phải phát hiện (xác định) được bên liệt.
1- Quan sát kỹ
mặt người bịnh sẽ thấy:
+ Nếu liệt
trung ương:
. Nếp nhăn mắt,
mũi, má, mép rất rõ ở bên lành, rất mờ ở bên bịnh.
. Miệng, nhân
trung lệch sang bên lành.
. Khi thở, má
bên liệt phập phồng theo nhịp thở, như người hút thuốc lá.
. Dấu hiệu
Pierre Marie Poix: khi ấn mạnh 2 ngón tay ở góc hàm, chỉ thấy miệng, má bên lành
cử động.
+
Nếu liệt Ngoại biên.
. Liệt giống
như trên nhưng nếp nhăn trán bên liệt cũng mờ.
. Thêm dấu hiệu
Charles Bell: Khi muốn nhắm, mắt không kín, tròng đen đưa lên. Nếu bảo người
bịnh:
. Há và mím
chặt miệng: khi quan sát nếp nhăn ở trán và mắt, thấy bên lành rõ và nhiều nấp
nhăn, bên liệt ít và mờ hơn.
Người bệnh ăn
cơm sẽ thấy cơm chảy qua bên liệt do 2 môi khép không kín.
Riêng lưỡi
thường không liệt, nhưng khi thè lưỡi ra ta có cảm tưởng là lưỡi bị lệch về phía
liệt vì miệng méo về bên lành.
Liệt 1 chân 1
tay.
. Quan sát lúc
lâu sẽ thấy 1 bên tay, chân người bịnh không cử động. Nếu kích thích chi bên
liệt, không thấu phản ứng.
. Trương lực cơ
tay và chân bên liệt giảm.
. Nếu nâng hai
tay lên khỏi mặt giường rồi bỏ rơi xuống sẽ thấy bên liệt rơi ngay xuống đất 1
cách nặng nề như không có sức chống đỡ. Đối với chân cũng vậy: chân liệt rơi
xuống trước và nặng nề.
. Phản xạ gân
giảm xo với bên lành (có khi mất hẳn) nhưng 2-3 tuần sau lại bắt đầu tăng hơn
bình thường.
. Phản xạ da
bìu mất ở bên liệt.
. Dấu hiệu
Babinski thường có.
. Thường toàn
bộ các cơ ở cho trên (bên liệt) bị liệt đều và nặng hơn chi dưới - Nếu bịnh nhẹ
có thể thấy chỉ có các cơ ở đầu cuối chi bị liệt rõ, cẳng tay ở tư thế úp sấp,
các cơ gấp bị liệt nhẹ hơn các cơ duỗi.
- Ở chi dưới,
hiện tượng liệt ở bàn chân và cảng chân nặng hơn ờ đui (vì vậy đủ bị liệt nửa
người khá nặng, người bịnh vẫn có thể cử động (ít ơ khớp háng, khớp gối có thể
co lại ít nhiều, nhưng ít khi có thể co duỗi ra được, vì các cơ mặt trước đùi bị
liệt nặng hơn các cơ ở mặt sau), bàn chân thường duỗi thẳng như chân ngựa. Đến
giai đoạn liệt nửa thân cứng sẽ xuất hiện các dấu hiệu:
- Trương lực cơ
tăng biểu hiện là khi làm các động tác thụ động phía bên liệt sẽ thấy khó khăn
vì sức giáng cự mạnh, cho trên thường ở tư thế khớp khuỷu gấp 900, cẳng tay úp
sấp, bàn tay nắm lại và ngón cái bị 4 ngón kia cho lấp. Các cơ ở chi dưới co
cứng nhiều nhất, vì vậy bàn chân duỗi thẳng kiểu chân ngựa. Trái lại các cơ ở cổ
và thân (thành bụng), vùng thắt lưng...vẫn mềm hoặc co cứng không đáng kể vì đó
là các cơ giữ vai trò giữ tư thế cho cơ thể.
- Phản xạ gân
xương tăng.
- Nếu người
bịnh còn đi được thì dáng đi đặc biệt như kiểu “Vát tép”. Khi đi toàn bộ chi
dưới nhấc lên cứng đờ, không gấp khớp gối, bàn chân duỗi thẳng và vẽ 1 vòng cung
rồi lại đặc xuống nặng nề, ta có cảm tưởng chân rơi bịch xuống đất.
Chi trên thường
bị nặng hơn chi duối vì vậy dù có đi được, tay bên liệt không dùng làm gì được,
cứ thõng xuống.
- Dấu hiệu đồng
động: xuất hiện khi người bịnh làm các động tác theo ý muốn hoặc theo phản xạ.
- Đồng đông
toàn bộ: tất cả các cơ bên liệt co cứng khi người bịnh làm 1 động tác gắng sức.
- Đồng đồng đối
xứng: chi bên liệt có khuynh hướng bắt chước động tác cửa chi bên lành.
- Đồng động
phối hợp: khi có 1 khối cơ theo ý muốn thì các khối cơ khác trong chi đó cũng co
cứng.
Có thể gặp các
dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu gấp
đùi và thân phối hợp: người bịnh đang nằm ngửa trên giường khi cố gắng ngồi dậy
sẽ co khớp háng bên liệt lại.
- Dấu hiệu các
cơ khép: Người bịnh nằm ngửa, thầy thuốc giữa lấy đùi bên lành và bảo người bịnh
cố khép đùi vào, lúc ấy sẽ thấy các cơ khép bên liệt co cứng hơn lên.
- Bảo người
bịnh co đầu gối bên liệt lại thì đồng thời bàn chân sẽ ngửa lên phía cẳng chân
ngay.
- Trong khi
đang nằm ngửa, nếu người bịnh giơ chân lành lên thì gót chân bên liệt sẽ tỳ rất
mạnh xuống giường.
- Khi người
bệnh giờ cao tay bên liệt, các ngón tay từ trước vẫn nằm lại lúc đó lại duỗi ra.
* Bên nửa người
bịnh liệt có rối loạn dinh dưỡng và vận mạch: mu bàn tay có thể phù nề nặng nề
mềm, bàn tay và bàn chân có thể tím và lạnh hơn bên lành. Da khô và dễ bong vẩy,
các móng dễ gẫy, biến dạng. Huyết áp ở các chi bên liệt có thể thấp hơn, bên
lành.
b- Theo
YHCT
Dựa vào biện
chứng bịnh, YHCT chia làm 2 loại:
Trúng phong
kinh lạc (loại nhẹ) và Phong trúng tạng phủ (loại nặng).
1- Phong Trúng
Kinh Lạc
Can Thận Aâm
Hư, Phong Đờm Ngăn Trở (T Đô), Quấy Nhiễu (T. Hải).
- Chứng: thường
bị đau đầu, chóng mặt, tai ù, mắt mờ, ngủ ít, hay mơ, tự nhiên thấy lưỡi bị
cứng, không nói được, mắt lệch, miệng mép, nửa người liệt, lưỡi hồng, rêu lưỡi
đỏ, nhờn, hoặc vàng, mạch Huyền Hoạt Huyền Tế mà Sác (T. Hải), huyền hoạt (T,
Đô).
- Biện chứng:
do Can Thận âm hư, Can dương bốc lên, âm dương không quân bình, huyết tràn lên,
khí bị nghịch, gây nên chứng trên thực dưới hư, vì vậy đầu đau, chóng mặt, tai
ù, mắt mờ, ngủ ít, hay mơ. Can dương bốc lên làm cho Can phong bị động, phong
hợp với dàm quấy nhiễu bên trên, phong đàm chạy vào kinh lạc, vì vậy lưỡi tự
nhiên cứng không nói được, mắt xếch, miệng méo, nửa người bị liệt, lưỡi đỏ, mạch
Huyền Hoạt hoặc Huyền Tế mà Sác. Xét về mạch thì Huyền chủ về Can phong, hoạt
chủ đờm thấp, Huyền Tế mà Sác là Can Thận âm hư mà sinh nội nhiệt, nhiệt động
Can phong, lưỡi đỏ là âm hư, rêu lưỡi nhờn là có cả đờm thấp.
- Điều trị:
* NKHT. Hải:
Dưỡng âm, nuôi dưỡng, trấn can tức phong, dùng bài Trấn Can Tức Phong (Trung
Tham Tây Lục): Ngưu tất 40g, Giả thạch (sống) 40g, Long cốt (sống) 20g, Mẫu lệ
(sống) 40g, Quy bản 20g
Bạch thược
(sống) 20g, Mạch nha (sống) 8g, Xuyên luyện tử 8g, Thiên môn 20g, Huyền sâm 20g,
Thanh hao 8g, Cam thảo 6g. Thêm Cau đằng, Cúc hoa - sắc uống, ngày 1 thang.
Bài này dùng
lượng lớn Ngưu tất, Đại giả thạch để dẫn huyết đi xuống, bình giáng khí nghịch;
Long cốt, Mẫu lệ, Quy bản, Thược dược để tiểm dương, nhiếp âm, trấn Can, tức
phong; Huyền sâm, Thiên môn để tư âm giáng hoả; Thanh hao, Mạch nha (dùng sống)
để lý khí; Xuyên luyện tử để sơ Can lý khí; Cam thảo hoãn cấp, hoà trung, là các
thuốc hỗ trợ để tiết Can, điều Can, hoãn Can, giúp cho Can được bình giáng; Câu
đằng, Cúc hoa tức phong, thanh nhiệt.
* NKHT. Đô: Tư
âm, tiểu dương,hóa đàm thông kết. Dùng bài Thiên Ma Câu Đằng Ẩm (Tạp Bịnh Chứng
Trị Tân Nghĩa): Thiên ma 8g, Câu đằng 16g, Đỗ trọng 16g, Ngưu tất 12g, Tang ký
sinh 12g, ích mẫu 12g, Dạ giao đằng 20g, Thạch quyết minh 20g, Hoàng cầm 12g,
Sơn chi 12g, Phục thần 12g, Sắc uống.
(Thiên ma, Câu
đằng, Thạch quyết minh bình Can dương, tức Can phong; Sơn chi, Hoàng cầm tiết
Can hỏa; Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất bổ Thận âm, dưỡng Can huyết, thông
lạc; Dạ giao đằng, Phục thần dưỡng huyết an thần.
Sách Thiên Gia
Diệu Phương dùng bài Khổ Tân Hàm Giáng Thang: Thạch cao 40g, Hoạt thạch 68g,
Hàn thủy thạch 40g, Tử thạch 40g, Mẫu lệ 40g, Thạch quyết minh 40g, Linh dương
giác 6g, Câu đằng 20g, Bối mẫu 12g, Tân bì 20g Thảo quyết minh 24g, Tật lê 24g.
Sau khi sắc cho thêm 20ml Trúc lịch, 10ml gừng, quấy đều, uống với 4g Chí bảo
đơn.
hoặc Trấn Can
Ích Aâm Thang: Thạch cao 40g, Thạch quyết minh 40g, Đại cáp phấn 40g, Đởm thảo
12g, Chi tử nhân 12g, Thiên trúc hoàng 12g, Xương bồ 12g, Tuyển phúc hoa 12g,
Đại giả thạch 12g, Tri mẫu 12g, Hoàng bá 12g, Ngưu tất 12g, Uất kim 12g, Trúc
nhự 16g, Hoạt thạch 16g, Tử thạch 16g, Sắc uống chung với 1 hoàn An Cung Ngưu
Hoàng Hoàn và Linh dương (bột) 0,6, Tô giác (bột) 0,6g.
hoặc dùng Hy
Thiêm Chí Dương Thang: Hy thiêm thảo (cửu chế) 68g, Hoàng kỳ 20g, Nam tinh 12g,
Bạch phụ tử 12g, Xuyên phụ phiến 12g, Xuyên khung 6g, Hồng hoa 6g, Tế tân 2,8g,
Phòng phong 12g, Ngưu tất 12g, Tô mộc 12g, Cương tằm 6g. Sắc uống.
2- Mạch Lạc Hư
Trống, Phong Tà Xâm Nhập (T. Hải).
- Chúng: Đột
nhiên mắt lệch, miệng méo, da tê bì, nói ngọng, miệng chảy dãi, liệt nửa người,
sợ rét, sốt, tay chân co lại, các khốp xương đau nhức, rêu lưỡi trắng, mạch
huyền tê hoặc phù sác.
- Biện chứng:
Do chính khí hư yếu, mạch lạc hư, trống, việc phòng vệ bên ngoài không chặt,
phong tà nhập vào mạch lạc, khí huyết bị ngưng trệ làm cho miệng ráo, mắt xếch,
sợ rét, sốt, tay chân co, khớp xương đau, mạch phù là phong tà xâm nhập.
- Điều trị: khứ
phong, thông lạc, hoạt huyết, hòa vinh dùng Khiên Chính Tán (Dương thị Gia
tàng).
Bạch phụ tử,
Cương tằm, Toàn yết, lượng bằng nhau. Tán bột, thêm Kinh giới, Phòng phong, Bạch
chỉ, Hồng hoa. Mỗi lần dùng 4g với rượu nóng.
(Bạch phụ tử
tán phong tà ở vùng đầu mặt, Cương tầm khứ phong đàm. Toàn yết tức phong trấn
kinh, 2 vị này hợp lại có tác dụng sưu phong, thông lạc. Bạch chỉ để tán phong,
khử tà, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ).
hoặc dùng bài
Tần Cửu Thang Gia Giảm (Bảo mệnh Tập): Tần cửu, Khương hoạt, Phòng phong, Bạch
chỉ, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Bạch phụ tử, Toàn yết, Tế tân.
Sắc uống, bã
thuốc có thể cho vào túi vải, đắp nóng, chỗ đau.
Dùng tần cửu,
Khương hoạt, Phòng phong, Bạch chỉ để giải biểu tán phong, Phụ tử, Toàn yết khư
phong đảm, thông kinh lạc, Xích thược, Xuyên khung dưỡng huyết, Tế tân khư
phong.
+ Khí Hư, Huyết
Ưù: Liệt nửa người, mắt lệch, miệng méo, nói khó khăn, chảy nước miếng, tiểu
nhiều hoặc tiểu không tự chủ, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch sáp.
- Biện chứng:
Do chính khí không đủ mà huyết mạch bị ngăn trở gây ra đau nhức, kinh mạch không
thông gây ra liệt nửa người, mắt lệch, miệng méo, nói khó, chảy nước miếng, tiểu
không tự chủ, đều do khí hư không kềm hãm được. Mạch sáp là biểu hiện huyết ứ.
- Điều trị: Ích
khí không kết, hoạt huyết, hóa ứ, dùng bài.
Bổ Dưỡng Hoàn
Ngũ Thang (Y Lâm Cải Thác): Hoàng kỳ 40-160g, Quy vĩ 8g, Xích thược 6g,
Địa long 4g, Xuyên khung 4g, Đào nhân 4g, Hồng hoa 4g. Sắc uống.
Dùng Hoàng kỳ
(sống) với lượng nhiều thì lực chuyên mà tính tẩu, đại bổ nguyên khí, đưa thuốc
đi tới toàn thân trị chứng liệt, hợp với Quy vĩ, Xích thược, Địa long, Xuyên
khung, Đào nhân, Hồng hoa là các vị thuốc hoạt huyết, khứ ứ.
- Sách TGD
Phương dùng bài Bổ Dương Hoàn Vũ Thang Gia Vị: Hoàng kỳ 40g, Xích thược 16g,
Xuyên khung 8g, Qui vĩ 12g, Địa long 12g, Đào nhân 12g, Hồng hoa 12g, Bạch phụ
tử 12g, Cương tằm 20g, Toàn yết 15 con, sắc uống.
hoặc Bổ Dương
Hoàn Ngũ Thang Gia Giảm: Hoàng kỳ 40g, Quy vĩ 20g, Xuyên khung 12g, Xích thược
16g, Hồng hoa 8g, Đào nhân 8g, Địa long 12g, Tang ký sinh 40g, Kê huyết đằng
28g, Đan sâm 20g, Ngô công 1 con, Tiêu tra 20g, Uống khoảng 10-20g thang, cho
thêm Mã tiền tử chế vào. Nếu dùng Mã tiền tử sớm, hiệu quả sẽ không tốt.
TRÚNG PHONG
TẠNG PHỦ
Biểu hiện chủ
yếu là thình lình hôn mê. Trên lâm sàng chia làm 2 loại: Bế chứng và Thoát chứng.
Bế
Chứng
- Thình lình
hôn mê, răng cắn chặt, miệng mím không mở, 2 tay nắm chặt chân tay co giật, đại
tiểu tiện bí. Tuy nhiên dựa vào có nóng sốt hay không mà chia ra? loại. Dương bố
và Aâm bố.
a- Dương bế.
- Chứng: triệu
chứng ở trên, thêm mặt đó, người nóng, thở mạnh, miệng hôi, bứt rứt không yên,
rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt mà sác.
- Biện chứng:
Cam dương vượng, dương thăng phong động, khí huyết đi ngược lên, hợp với đờm và
hỏa, che mất thanh khiếu vì vậy gây ra hôn mê. Dương bố là tà của phong hỏa đàm
nhiệt bốc lên cho thanh khiếu nhưng bị bố lại ở bên trong cho nên mặt đỏ, người
nóng, thở mạnh, miệng hôi, đại tiểu tiện bí, rêu lưỡi vàng, mạch sác.
- Điều trị:
* NKHT. Hải:
Khai khiếu thanh Can, tức phong, dùng thuốc cay, mát dùng bài CHÍ BẢO ĐƠN, cậy
miệng cho uống hoặc thổi vào mũi để khai khiếu rồi dùng bài Linh Dương Giác
thang gia giảm để thanh can tức phong, nuôi âm giữ dương.
Chí Bảo Đon
(Hòa Tể Cục Phương): Nhân sâm 40g, Chu sa 40g, Tê giác 40g, Hổ phách 40g, Nam
tinh (chế) 20g, Thiên trúc hoàng 40g, Băng phiến 40g, Hùng hoàng 40g, Ngưu hoàng
20g, Đại mại 40g, Xạ hương 4g
Linh Dương
Giác Thang (Y Thuần Thặng Nghĩa): Ling dương giác 6g, Quy bản 24g, Đại gia thạch
18g, Thạch quyết minh 24g, Bạch thược 4g, Sài hồ 4g, Bạc hà 4g, Hồng táo 10
trái, Hạ khô thảo 4g
Cúc hoa 6g, Đan
bì 4g, Thuyền thoái 4g, Sắc uống
Linh dương
giác, Cúc hoa, Hạ khô thảo để thanh can tức phong, Bạch thược, Quy bản để dưỡng
âm. Đan bì lương huyết thanh nhiệt. Đại giả thạch để giữ dương. Sài hồ sơ can.
Bạc hà khu phong, Thuyền thoái thông khiếu.
* NKHT Đô: Bình
can, khai khiếu, xử dụng thuốc mát, dùng Chí Bảo Đon (như trên), sau đó cho uống
bài.
Linh Giác
Câu Đằng Thang (Thông Tục Thương Hàn Luận): Linh giác phiến 6g (nấu trước),
Xuyên bối (bỏ lõi) 12g, Song câu đằng 8g (nấu sau), Cúc hoa 8g, Phục thần 8g,
Bạch thược 8g, Tang diệp 6g, Sinh địa 16g, Cam thảo 2g, thêm Trúc nhự 16- sắc
uống.
Linh dương
giác, Câu đằng thanh nhiệt, lương can, tức phong, chỉ kinh. Tang diệp. Cúc hoa
hỗ trợ tác dụng thanh nhiệt, tức phong, Bạch thược, Sinh địa dưỡng âm, tăng dịch
để bình can. Bối mẫu, Trúc nhự để thanh nhiệt, hóa đờm (do nhiệt nung đốt tân
dịch hóa thành đàm), Phục thần để bình tâm, an thần, Cam thảo điều hòa các vị
thuốc.
b. Âm bố.
- Chứng: Thình
lình hôn mê, răng cắn chặt, miệng mím không mở, 2 tay nắm chặt, tay chân lạnh,
đại tiểu tiện bí, chân tay co giật, mặt môi tím, đờm dãi khò khè, rêu lưỡi
trắng, mạch trầm hoạt.
- Biện chứng:
Aâm bố là thấp đàm thịnh, phong và thấp đờm bốc lên che lấp thanh khiếu gây ra
nội bố, làm cho mặt nhạt, môi tái, tay chân lạnh, hôn mê, mạch trầm hoạt.
- Điều trị:
* NKHT Hải: Tân
ôn khai khiếu, trừ đàm tức phong, dùng bài Tô Hợp Hương Hoàn mài ra với nước
nóng cho uống gấp hoặc thổi vào mũi để khai khiếu, sau đó dùng bài Địch Đàm
Thang
Tô Hợp
Hương Hoàn (Hòa Tễ Cục Phương): Chu sa 40g, Mộc hương 40g, Kha tử nhục 40g,
Tê giác 40g, Băng phiến 20g, Hương phụ 40g, Xạ hương 30g, Tỳ bạt 40g, Trầm hương
40g, Đàn hương 40g, Đinh hương 40g. Trừ băng phiến và Xạ hương, các vị kia tán
bột trộn đều, thêm Băng phiến và Xạ hương vào, rồi cho dầu Tô hợp hương 40g và
mật ong hơi âm ấm, quấy đều làm thành viên, mỗi viên 4 g. Ngày dùng 1 viên, chia
2 lần, uống hoặc thổi vào mũi.
Địch Đàm
Thang (Kỳ Hiệu Lương Phương): Nam tinh (chế gừng) 4g, Bán hạ (tẩy nước sôi 7
lần) 4g, Phục linh (bỏ vỏ) 8g, Thạch xương bồ 2,8g, Nhân sâm 4g, Chỉ thực 8g,
Quất hồng 6g, Trúc nhự 2,8g, Cam thảo 2g, Thêm gừng 5 lát, sắc uống.
Bán hạ, Trúc
nhự, Phục linh trừ đàm hỏa thấp, Xương bồ, Nam tinh khai khiếu, lợi đàm. Chỉ
thực giáng khí, hòa t rung. Thêm Thiên ma, Câu đằng để bình can tức phong.
- Sách NKHT
Đô: Bình can khai bế, tức phong hóa đàm. Dùng bài Tô hợp Hương Hoàn và Dịch đàm
thang giống trên.
b. Thoát chứng.
- Chứng: tự
nhiên hôn mê, mắt nhắm, miệng há (mở) mũi thở rất nhẹ, tay duỗi chân tay lạnh,
mồ hôi nhiều, đại tiểu tiện không tự chử, lưỡi rụt, mạch vi hoặc nhược (T. Hải),
mạch tế nhược (T.đô).
- Biện chứng:
Can khí thoát nên mắt nhắm, tỳ khí thoát nên miệng há, tay chân duỗi, Tâm khí
thoát nên mắt nhắm, tỳ khí thoát nên miệng há, tay chân duỗi, Tâm khí thoát nên
xuất mồ hôi, lưỡi rụt mạch tế. Phe khí thoát thì hơi thở nhẹ yếu, thận khí thoát
thì tiêu tiểu không tự chủ, tay chân lạnh.
- Điều trị:
* Sách NKHT
Hải: phù chính, cố thoát, ích khí, hải dương cấp dùng bài Sâm phụ thang để hồi
dương cứu nghịch. Sau khi hồi dương nếu người bịnh mặt đỏ, chân lạnh, bứt rứt
không yên, mạch nhược hoặc thình lình mạch mạnh lên là do chân âm hư tổn, dương
không có chỗ dựa vì vậy hư dương trổi lên muốn thoát. Nên dùng bài Địa hoàng Aâm
tử gia vị để bổ dưỡng âm, ôn bổ thận dương để hồi dương cố thoát.
Sâm Phụ
Thang (Theo Y Đắc Hiệu): Nhân sâm 16g, Phụ tử (chế) 8-12g, (bịnh nặng có thể
dùng liều gấp đôi).
Nhân sâm đại bổ
nguyên khí, Phụ tử ôn tráng chân dương. 2 vị ghép với nhau làm hưng phấn dương
(Ích khí, cố thoát).
Địa Hoàng
âm Tử (Tuyên Minh Luận): Địa hoàng 40g, Ba kích 12g, Thạch hộc 12g, Bạch linh
12g,
Sơn thủy 12g, Mạch môn 12g, Viễn chí 8g, Ngũ vị tử 4g, Phụ tử (nướng) 8g, Nhục
thung dung 8g, Xương bồ 8g, Nhục quế 4g.
Địa hoàng, Ba
kích, Sơn thủy, Nhục thung dung, để đại bổ thận, tinh không đủ, hợp với Phụ tử,
Nhục quế để dẫn hỏa quy nguyên, dùng Ngũ vị tử để liêm Aâm, cố thoát. Vì trúng
phong làm lưỡi cứng, nói khó hoặc cấm khẩu thường do môi lưỡi bị khô táo mà học
có đàm, vì vậy dùng mạch môn, Thạch hộc để dưỡng dịch, sinh tân và hạn chế bớt
tính cương táo của Phụ tử và Nhục quế, lại dùng Xương bồ, Viễn chí, Phục linh để
thông tâm khí mà thanh thần chí, hóa đàm trọc để khai phế.
CHÂM CỨU TRỊ
LIỆT NỬA NGƯỜI (Trúng Phong).
- CCHT. Hải:
* Chứng Bế: Nếu
nặng phải khai khiếu, tiết nhiệt, giáng khí. Châm kích thích tương đối mạch các
huyệt Nhân trung, Kiên tĩnh, Dũng tuyển, Lao cung, Phong trì, Nội quan, Hợp cốc.
* Chứng thoát:
hồi dương cố thoát, nếu nhẹ thì sơ thông kinh khí, hoạt huyết, khứ phong. Châm
nhẹ các huyệt Nhân trung, Kiên tĩnh, Dũng tuyển, Lao cung, Phong trì, Nội quan,
Hợp cốc.
. Nếu dương khí
muốn thoát, dùng Ngải (viên lớn) cứu tại h. Khí hải, Quan nguyên, Túc tam lý.
. Nếu miệng
nhạt, mặt đỏ, vật vã, tiểu đỏ, đại tiện bí mạch hồng sác là hỏa vượng thêm Đại
lăng, Hành gian, Thiên xu, Thượng cự hư.
. Nếu chân tay
lạnh ra mồ hôi, mạch vi muốn tuyệt là nguyên khí muoớn thoát có thể cứu thêm
Chiên trung, Thận du, Mệnh môn.
. Nếu đầu đau
nhiều, choáng váng chân tay co quắp là Can phong nội động, thêm Thái xung, Dương
lăng tuyển.
Nếu đàm nhiều,
ngực bụng đầu, phiền, tay chân nặng, rêu lưỡi đầy nhớt, mạch huyền hoạt là đàm
thịnh, thêm Thiền độc, Phong long, Nội quan.
ĐIỀU TRỊ DI
CHỨNG
* Chi trên
liệt: Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Ngoại quan, Trị than thêm Kiên liêu, Thủ
tam lý, Dương trì, Trung chử (Châm Khúc trừ có thể thấu Thiếu hải, Hợp cốc có
thể thấu Hậu khê).
* Chi dưới
liệt: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Trị than 5, Huyền chung, Giải
khê, Củ nội phiên, Củ ngoại phiên, Túc tam lý, thêm Than lập (Dương uỷ 2), Lạc
địa, Côn lôn, Thái xung, Túc lâm khấp, Kinh cốt.
* Liệt mặt (mắt
lệch, miệng méo): Ế phong, Địa thương, Tứ bạch, Giáp xa, Hợp cốc, Khiên chính
thêm Toàn trúc, Dương bạch, Nhân trung, Địa thương, Tứ bạch, Giáp xa, Hợp cốc,
Khiên chính thêm Toàn trúc, Dương bạch, Nhân trung, Quyền liêu, Giáp (Hiệp) thừa
tương.
(Châm Tứ bạch
nên chân thẳng hoặc chân xiên từ trên xuống, Địa thương có thể thấu Giáp xa,
Dương bạch có thấu Ngư yêu).
* Lưỡi cứng,
nói khó: Thượng liêm tuyền, Thông lý, thêm Thiên đột, Á môn, Chiếu hải (châm
Thiên đột đừøng sâu quá- châm Á môn mũi kim phải hơi hướng xuống).
Ý nghĩa: Trúng
phong thể bế chứng là do hỏa tích tụ, vì vậy dùng 12 Tỉnh huyệt để thanh tiết
dương tả, thêm Nhân trung là huyệt của Mạch đốc với kinh Thủ và Túc dương minh
có thể làm cho âm dương giao thông, khai khiếu tiết nhiệt.
Dũng tuyền là
h. Tĩnh của Túc thiếu âm làm khí hỏa giáng xuống, Lao cung là h. Vinh của kinh
tâm bào, Nội quan là h. Lạc của kinh Tâm bào có thể thanh tâm bài tiết nhiệt.
Phong trì sơ phong tiết nhiệt, thêm Hợp cốc để tiết nhiệt ở Dương minh.
Trúng phong thể
chứng thoát là nguyên khí suy kiệt, dương khí bị thoát, vì thế dùng Quan nguyên,
Khí hải để bồi bổ nguyên khí, Túc tam lý để bồi dưỡng trung tiêu. Hỏa thịnh dùng
Đại lăng, Hành gian để thanh tiết hỏa khí của hai kinh tâm bào và Can. Thiên xu.
Thượng cự hư, để khử tính uế của Đại trường, Thanh tả nhiệt của Dương minh. Khí
suyễn thì dùng thêm Chiên trung để bình suyễn, thêm Thận du, Mệnh môn để bổ ích
thận dương. Can phong thêm Thái xung, Dương lăng tuyền để thanh tiết phong dương
của Can, Đởm. Đàm thịnh dùng Thiên đột để giáng lợi đàm ở họng. Phong long, Nội
quan để khử đàm, khoan hung. Lưỡi cứng dùng Thượng liêm tuyền theo kinh nghiệm
hiện nay, thêm Thông lý, Á môn để thanh tâm thần mà khai khiếu, thêm Chiếu hái
để hỗ trợ tác dụng các huyệt trên (vì đây là h. Hội của Túc Thiếu âm và Aâm kiều
mạch).
+ Bá hội, Mớ
tóc trước tai, Kiên tĩnh Phong thị, Tam lý, Tuyệt cốt, Khúc trì, mỗi huyệt cứu 3
tráng, Bá hội 50 tráng (Tư Sinh Kinh).
+ Dùng kim Tam
lăng chân ra máu 12 huyệt Tĩnh (Càn Khôn Sinh Ý).
- Hợp cốc xuyên
lao cung, Dưỡng lão, Thẩm môn, Nội quan Thấu Ngoại quan, Tý trung, Thủ tam lý,
Đái kiên, Kiên tam châm, Ưng hạ, Thận tích, Hoàn khiêu, Aân môn, Phục thổ, Thừa
sơn, Dương lăng tuyển thấp ẩm lăng tuyền, Phong thị, Kiện tất, Túc tam lý, Tam
âm giao, Tuyệt cốt, Côn lôn, Thái khê, Lý thượng, An miên, Phong trì, Chọn vài
huyệt ở đầu và chi trên, chi dưới, thay đổi xử dụng. 10-15 ngày lal2 1 liệu
trình, 2 liệu trình cách nhau 3-5 ngày (Biển Thước Thần Ứng Châm Cứu Ngọc Long
Kinh).
+ Chứng bế:
Kích thích mạnh, không lưu kim: Nhân trung, Thập tuyên, Thái xung, Phong long,
Bá hội, Dũng tuyền.
Chứng thoát:
Cứu Thần khuyết, Quan nguyên.
Liệt nửa người:
Chi trên: Định suyễn, Xiên ngưng, Ngoại quan, Khúc trì, Hợp cốc. Chi dưới, Thận
du, Đại trường du, Hoàn khiêu, Ân môn, phong thị, Dương lăng tuyền, Huyền chung,
Giải khê.
Không nói được:
Liêm tuyền, Á môn, Thông lý.
Mặt liệt: Hạ
quan, Giáp xa, Thừa tương (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
+ Chứng Bế:
Thủy câu, 12 tĩnh huyệt, Thái xung, Phong long.
Chứùng thoát:
Quan nguyên, Thần khuyết (cứu cách muối).
Liệt nửa người:
Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Ngoại quan, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam
lý, Giải khê, Côn lôn (Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).
+ Kiên ngung,
Khúc trì, Liệt khuyết, Thái uyên, Hợp cốc, Thủ tam lý, Túc tam lý, Phong thị,
Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Giải khê, Thái uyên, Huyền chung, Phục thố (Châm
Cứu Trị Liệu Học).
+
Chứng bế: Khai khiếu, tiết nhiệt, tinh thần, tức phong, châm Nhân Trung Thập
tuyên, Bá hội, Giáp xa, Hợp cốc, Dũng tuyền, Phong long, Thiên đột.
Chứng thoát:
hồi dương cố thoát, cứu Thần khuyết, Quan nguyên, Khí hải.
Liệt mặt: Giáp
xa, Địa thương, Toàn trúc, Hợp cốc, Thái xung.
Liệt nửa người:
Kiên ngung, Khúc trì, Hợp cốc, Bát tà, Phục thổ, Túc tam lý, Giải khô, Bát
phong.
Nói khó, lưỡi
cứng, Á môn, Liêm tuyền, Thông lý (Châm Cứu Học Việt Nam).
+ Đầu lâm khấp,
Bá hội, Nhân trung, Nội quan, Thập tuyên, hoặc Kiêm tinh, Bá hội, Phong trì,
Nhân trung, Nội quan, hoặc Huyền chung, Thận du, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền,
Túc tam lý, Giải khê, Côn lôn, Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc (Châm
Cứu Học Giản Biên).
+ Châm bình bổ
bình tả Kiên ngung, Kiên liên, Khúc trì, Thủ tam lý, Ngoại quan, Hợp cốc, Phong
thị, Phục thố, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Tuyệt cốt.
. Can dương
vượng: thêm Phong trì, Thái dương, Thái xung (châm tả).
. Đờm nhiều:
Thêm tả Phong long, Hành gian, bình bổ bình tả Tỳ du, Vị du và Nhân trung.
. Aâm hư thêm
châm bổ Tam âm giao, Thái khê.
. Mặt liệt thêm
Giáp xa, Địa thương, bình bổ bình tả.
. Lưỡi cứng khó
nói thêm Liêm tuyền, Thông lý.
. Liệt nửa
người: Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Hoàn khiêu, Túc tam lý, Dương
lăng tuyển, Huyền chung, Giải khê.
Gia giảm:
Khí huyết hư,
kinh mạch ứ trệ: Bá hội, Túc tam lý, Tam âm giao, Quan nguyên, Khí hải, Vị du,
Tỳ du, Cách du, Cao hoang.
Can dương
vượng, kinh mạch ứ trở: thêm Thái xung, Hành gian, Dương lăng tuyền, Túc lâm
khấp, Can du, Đởm du, Khúc trì, Phục lưu.
Đờm nhiều làm
ngăn trở kinh mạch: thêm Phong long, Túc tam lý, Tam âm giao, Huyết hải, Quan
nguyên, Phế du, Đởm du, Khúc trì Phục lưu (Giang Tô Trung Y Tạp Chí 1985, 24).
+ Chi trên:
Kiên tĩnh, Kiên ngoại du, Kiên ngung, Kiên liêu, Kiên trinh, Khúc trì, Ngoại
quan, Dương trì, Thủ tam lý, Hợp cốc, Đại chùy, Hòa đà giáp tích (Giang Tây
Trung Y Dược 1985, 35).
|