KINH NGUYỆT
Con gái khoẻ mạnh
thường 13 – 14 tuổi đã có kinh. Thiên ‘Thượng Cổ Thiên Chân Luận’ (Tố Vấn 1)
viết: “Người con gái đến khoảng 14 tuổi, mạch Nhâm thông, âm huyết của mạch Thái
xung vượng, kinh nguyệt theo đó mà phát ra”. Trong 1-2 năm đầu, kinh nguyệt có
khi bị dao động chưa ổn định, nhưng sau đó kinh nguyệt đến đều, chu kỳ kinh
thường là 28 ngày, có khi sớm hơn hoặc trễ hơn, vì vậy còn được gọi là Nguyệt
Tín, Nguyệt Kinh. Tuy nhiên sách ‘Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương’ cũng đề cập
đến trường hợp đặc biệt của kinh nguyệt như Tính Nguyệt, hai tháng có một lần;
Cư Kinh ba tháng có một lần; Tỵ Niên một năm có một lần; Ám kinh suốt đời không
có kinh lần nào. Những trường hợp này, không gọi là bệnh kinh nguyệt, đó là hiện
tượng sinh lý bẩm sinh, không cần phải điều trị.
Thời gian hành
kinh thường từ 3 – 5 ngày, lượng trung bình 50-100ml. Mầu kinh lúc bắt đầu đỏ
nhạt, rồi đỏ đậm dần và sau cùng là đỏ nhạt, không có huyết cục, không mùi hôi.
Mỗi lần hành kinh, người mệt mỏi, chân tay rã rời, lưng đau nhẹ, bụng dưới đầy
tức, ăn không biết ngon, vú hơi căng, đều là hiện tượng sinh lý bình thường. Phụ
nữ thường tắt kinh vào lứa tuổi 48, 49 tuổi.
Nguyên Nhân
Nguồn gốc gây ra
rối loạn kinh nguyệt thường do ba nguyên nhân chính là Nội nhân, Ngoại nhân và
Bất nội ngoại nhân.
+ Nội nhân: Do xáo
trộn thất tình bên trong. Tiết Lập Trai nói: “Tâm Tỳ điều hoà thì chu kỳ kinh
nguyệt bình thường, nếu bị thất tình nội thương thì kinh nguyệt rối loạn”.
+ Ngoại nhân gây
nên bởi lục dâm. Trần Lương Phủ nói: “Phụ nữ kinh nguyệt không đều do phong, hàn
thừa lúc cơ thể suy yếu xâm nhập vào trong bào cung làm tổn thương hai mạch Nhâm
và Xung”.
+ Không do nội
ngoại nhân: Như do ăn uống không điều độ, lao nhọc quá sức, phòng dục quá độ…
gây ảnh hưởng đến kinh nguyệt.
Theo Đông y, kinh
nguyệt của phụ nữ có liên hệ rất nhiều đến mạch Xung, Nhâm và các tạng khác.
Chẩn Đoán
+ Cần dựa vào Tứ
chẩn và Bát cương để chẩn đoán.
Vấn Chẩn
+ Cần chú ý đến
chu kỳ, lượng nhiều hoặc ít, mầu sắc, các chứng trạng toàn thân để quyết định:
. Trước kỳ: lượng
kinh nhiều, tím bầm, có cục, mặt đỏ, khát, sợ nóng là huyết nhiệt, thực nhiệt.
. Sau kỳ: lượng
ít, không hôi, đỏ sẫm hoặc nhạt, thích nóng, sợ lạnh, đau hạ vị, chườm nóng bớt
đau là thuộc hàn.
. Lượng nhiều và
đậm: thực chứng.
. Mầu tía, đỏ
tươi, hồng hoặc đen tím thuộc về nhiệt.
. Sắc bầm là hoả
quá vượng, đôi khi do hư hàn.
. Lượng ít mà sắc
hồng nhạt thuộc về huyết hư.
. Sắc nhạt mà hơi
có chất nhầy như mũi thuộc về đờm.
. Sắc vàng và đục
là do thấp đờm.
. Mầu tía đen hoặc
thuần đen thuộc về hư hàn.
. Ngưng đọng lại
thuộc về khí hư hoặc huyết hư.
+ Kinh đến trước
kỳ thường thuộc về nhiệt, kinh đến sau kỳ thường do hàn.
+ Kinh nguyệt khi
trước khi sau không nhất định thuộc do Can khí uất kết.
Sách ‘Y Tông Kim
Giám’ viết: “Ứ đọng sắc sẫm mà tía đen, gần đến ngày hành kinh thấy có dấu hiệu
hàn thuộc về hàn ngưng. Ứ đọng sắc sáng mà tía đen, gần đến ngày hành kinh mà
thấy nhiệt thuộc về nhiệt kết”.
+ Đau bụng sắp
hành kinh thường do khí trệ, huyết ứ.
+ Đang hành kinh,
sau hành kinh mà đau bụng thường do khí hư.
MẠCH CHẨN
+ Sắp hoặc đang
hành kinh, mạch bộ Thốn phải Phù Hồng.
+ Đang hành kinh
mà mạch Hoạt Sác hoặc Huyền Sác là dấu hiệu mạch Xung và mạch Nhâm có nhiệt. Nếu
mạch Trầm Trì, tế là dương hư nội hàn hoặc huyết hải bất túc. Mạch Tế Sác là âm
hư, huyết nhiệt, tân dịch hao tổn…
+ Kinh bế không ra
mà mạch bộ xích hơi Sáp là chứng hư do huyết kém. Mạch bộ xích Hoạt mà đứt nối
không đều, đó là chứng hư do huyết thực, khí thịnh.
+ Chứng băng huyết
đa số do hư, mạch thường Hư đại hoặc Huyền Sác. Nếu lâu ngày không dứt, mạch
đáng lý phải Tế, Tiểu, Khâu, Trì, nếu chỉ thấy Hư, Sáp, Sắc là không tốt.
BÁT CƯƠNG
Hàn:
. Do phong hàn sẽ
xuất hiện kinh ra sau kỳ, tím đen, bế kinh, ứ huyết, có khi thống kinh.
. Do hàn thấp xuất
hiện: Kinh sau kỳ, tía nhạt, nhiều.
Nhiệt
. Do Thực Nhiệt:
Kinh ra trước kỳ, đỏ sẫm, nhiều hoặc thành băng huyết.
. Do hư nhiệt:
Kinh ra trước kỳ, đỏ nhạt, ít hoặc hơi nhiều hoặc băng huyết, rong huyết.
. Do thấp nhiệt:
Kinh ra trước kỳ, đặc dính, vàng đục.
Hư
. Khí hư (Tỳ hư):
Kinh kỳ kéo dài hoặc ra sớm, ra nhiều, sắc kinh nhạt, có thể bị băng huyết.
. Huyết hư: Sắc
kinh nhạt, hành kinh đau bụng, số lượng kinh giảm dần, dẫn đến vô kinh.
. Âm Hư: Kinh ra
trước kỳ, nhiều, có thể rong huyết, ít có thể thành bế kinh.
. Dương Hư: Kinh
phần nhiều kéo dài, nhạt, ít, đau bụng lâm râm.
Thực
. Huyết ứ: Kinh
rối loạn, phần nhiều ra sớm, một tháng có thể ra 2-3 kỳ, tím, cục, khó ra, bụng
dưới căng, nhức đầu, không thích xoa bóp. Trước khi hành kinh thì đau tăng, khi
huyết ra thì bớt đau. Có thể bị bế kinh hoặc băng huyết, bụng dưới cứng đau.
Khí Uất: Kinh rối
loạn, tím, không thông, bụng dưới đau tức, chướng, đau lan ra 2 bên sườn, vú
đau. Nếu uất hoá nhiệt thì kinh ra trước ngày.
Đàm Thấp: Kinh kéo
dài, nhiều, nhạt, có khi tắt kinh. Nếu đàm nhiệt thì kinh sắc đỏ.
Nguyên Tắc Điều
Trị
+ Về cách dùng
thuốc trong thời kỳ hành kinh, sách ‘Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương’ viết: “Kinh
nguyệt đang hành thường dùng vị nhiệt mà không nên dùng vị hàn. Thuốc hàn làm
huyết dừng lại khiến các chất Đới, Lâm, Hà, Mãn sinh ra”. Sách ‘Nữ Khoa Bí Yếu’
viết: “Trong lúc hành kinh, cấm không được dùng các vị thuốc đắng, hàn, cay,
tán”. Đó là quy luật thông thường, tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, có những
trường hợp bệnh chứng phải dùng đến các vị thuốc đáng, hàn, cay, tán, chứ không
nhất thiết phải giữ đúng như các sách trên nêu.
+ Phù Tỳ: trong
trường hợp nguồn ích huyết để kiện Tỳ, thăng dương là chính, tuy nhiên không nên
dùng những vị thuốc cam nhuận hoặc tân ôn để tránh làm tổn thương đến Tỳ dương
hoặc Tỳ âm.
+ Bổ Thận trong
trường hợp bổ ích chân thuỷ của tiên thiên để chấn tinh, bổ huyết là chính. Tuy
nhiên, cũng cần kết hợp với thuốc dưỡng hoả để làm cho thuỷ hoả đều đầy đủ, tinh
huyết đều vượng thì kinh nguyệt tự điều hoà.
+ Hành Khí Giải
Uất (vì khí hay gây rối loạn kinh nguyệt).
. Nên dùng phối
hợp thuốc hành khí như Thanh bì, Mộc hương với thuốc bổ huyết và thuốc bổ âm.
. Nếu khí nghịch
thì dùng thuốc giáng khí, khí hàn thì ôn khí, khí hư thì bổ khí. Đồng thời mỗi
trường hợp phải phối hợp với thuốc dưỡng huyết, điều kinh.
+ Bổ Tỳ Vị để điều
kinh (vì Tỳ Vị là gốc bổ cho huyết).
+ Chữa các bệnh
gây rối loạn kinh nguyệt như thiếu máu, suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh…
Bài Thuốc Dùng
Điều Trị KINH NGUYỆT
(Theo tập ‘Phụ Đạo
Xán Nhiên’ trong ‘Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh’)
+ Chưa đến kinh kỳ
đã ra là có hoả, dùng bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn.
+ Chưa tới kỳ mà
kinh ra nhiều, cũng dùng bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn thêm Hải phiêu tiêu, Sài hồ,
Bạch chỉ, Ngũ vị tử, Bạch thược.
+ Mới 10 ngày hoặc
½ tháng kinh đã ra là do khí bị hư yếu, dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang.
+ Quá kỳ kinh mới
ra là hoả suy, hư hàn, uất hoặc đờm, dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang thêm Ngải
cứu, Hương phụ, Bán hạ.
+ Kinh đến chậm mà
mầu nhạt dùng Bổ Trung Ích Khí Thang thêm Nhục quế.
+ Sau khi thấy
kinh, cơ thể đau nhức: do khí huyết suy và không điều hoà hoặc huyết hải không
đủ thì khi đến kỳ, huyết toàn thân bị tổn thương, cho nên kinh muốn ra là cơ thể
bị đau trước. Nếu kinh ra rồi thì đau bụng là khí huyết đều hư, nên dùng bài Bát
Trân Thang. Nếu đã hư mà có nhiệt, nên dùng bài Bát Vị Tiêu Dao Tán.
+ Vì khí trệ mà
kinh chưa ra hết nên dùng bài Tứ Vật Thang thêm Mộc hương.
+ Sau khi có kinh
bị phát sốt, mỏi mệt, mắt như bị che lấp, do Tỳ âm bị thương. Mắt là chủ huyết
mạch, nên dùng bài Bổ Trung Ích Khí Thang, Quy Tỳ Thang, không được dùng thuốc
thanh lương để làm sáng mắt.
+ Trước khi hành
kinh, bị tiêu chảy, mạch Nhu Nhược, do Tỳ Thận đều hư, nên dùng Quy Tỳ Thang gia
giảm để bổ Tỳ Thận.
+ Kinh ra quá
nhiều, có khi có huyết trắng, ngày nhẹ đêm nặng, tiêu chảy bất thường, do dương
hư hạ hãm, thoát dương nên dùng bài Thập Toàn Đại Bổ hoặc Bổ Trung Ích Khí
Thang.
+ Kinh không đều,
nên dùng Tứ Vật Thang làm chủ và tuỳ theo hàn, nhiệt, hư, thực mà gia giảm. Vì
đàn bà thuộc quẻ Khôn cho nên chữa đàn bà lấy âm làm chủ. Do đó, trong bài Tứ
Vật có Quy, Thược, Thục đều là thuốc có vị hậu, vị hậu là âm ở trong âm, cho nên
nó bổ ích cho huyết. Ngoài ra Quy vào Tâm, Thược vào Can, Thục vào Thận, Khung
vận hành khí ở trong huyết. Do đó, Tứ Vật là chủ để điều kinh.
+ Khi kinh ra mà
trong bị bệnh do ăn uống sống lạnh, ngoài bị hàn thấp sinh ra ứ huyết, nên dùng
bài Ngũ Tích Tán bỏ Ma hoàng thêm Mẫu đơn, Hồng hoa.
+ Kinh lạc bị trở
ngại do bên ngoài bị phong hàn, trong bị uất kết, nên dùng bài Ôn Kinh Thang
thêm Trạch lan, Đương quy, Mạch môn.
+ Kinh không ra do
Tâm khí uất kết, nên dùng bài Phân Tâm Hí Ẩm bỏ bớt Khương hoạt, Bán hạ, Thanh
bì, Tang bì thêm Xuyên khung, Hương phụ, Nga truật, Huyền hồ. Nếu có hoả thêm
Hoàng cầm hoặc dùng bài Tiểu Điều Kinh Thang hoặc Đơn Hương Phụ Hoàn.
+ Kinh không ra mà
bụng sôi do Vị bị hư, dùng bài Đơn Thương Truật Cao hoặc dùng độc vị Hậu phác
uống lúc đói.
+ Kinh bế do thấp
đờm dính ở huyết hải, nên dùng bài Đạo Đờm Thang thêm Xuyên khung, Hoàng liên.
+ Kinh ra sau kỳ
là huyết ít, dùng bài Tứ Vật Thang thêm Hoàng cầm, Hoàng liên.
+ Kinh kỳ trồi sụt
ít hoặc nhiều, 1-2 tháng ra một lần, nên dùng Đương Quy Thang hoặc Điều Kinh
Tán.
+ Kinh lúc có lúc
không, dây dưa, bụng đau nhói là do hàn khí, nhiệt tà lưu ở bào thai, huyết hải
ngưng trệ.
. Nếu khí ở dưới
rốn nghịch lên ngực làm cho nôn, nên dùng bài Đào Nhân Tán.
. Nếu Đau eo lưng,
bụng và rốn nên dùng Ngưu Tất Tán.
+ Kinh lúc lúc
không mà đau tim dùng bài Thất Tiếu Tán.
+ Kinh lúc ra lúc
dứt, lúc nóng lúc rét: Trước hết cho uống Tiểu Sài Hồ Thang thêm Địa hoàng. Sau
đó dùng Tứ Vật Thang.
+ Kinh ra lắt
nhắt: dùng bài Tứ Vật Thang, tăng gấp đôi Bạch thược, thêm Hoàng cầm.
+ Kinh ra không
ngừng: dùng bài Tứ Vật Thang thêm Địa du, A giao, Kinh giới (sao). Nếu có nhiệt,
bội Hoàng cầm hoặc uống bài Cố Kinh Hoàn.
+ Kinh ra sắc tía
là có phong, dùng Tứ Vật Thang thêm Phòng phong, Kinh giới, Bạch chỉ.
+ Kinh ra sắc đen
là nhiệt, dùng dùng bài Tứ Vật Thang thêm Hoàng cầm, Hoàng liên, Hương phụ.
+ Kinh ra đen như
khói như bụi, dùng bài Nhị Trần Thang thêm Tần giao, Phòng phong, Thương truật.
+ Kinh ra sắc nhợt
là hư, dùng Cổ Khung Quy Thang thêm Sâm, Kỳ, Thược, Hương phụ.
+ Kinh ra kèm theo
đờm, tích nước, dùng bài Nhị Trần Thang thêm Khung, Quy.
+ Kinh ra như nước
đậu nành dùng bài Tứ Vật Thang thêm Hoàng cầm, Hoàng liên.
+ Kinh ra có hòn
có cục là khí trệ dùng bài Tứ Vật Thang thêm Huyền hồ, Hương phụ, Trần bì, Chỉ
xác.
+ Kinh ra mà nóng
hâm hấp từng cơn nhất định là ngoại cảm thực nhiệt dùng bài Tứ Vật Thang thêm
Hoàng cầm, Sài hồ.
|