|
| |
KIẾT LỴ
(LỴ TẬT –
DYSENTERIE - DYSENTERY)
A-Đại cương
-Lỵ là một
Bệnh do vi trùng Entamoeba dysenteria gây ra, làm cho công năng vận hóa của Tỳ
Vị bị rối loạn gây ra bệnh.
-Là một trong
bảy Bệnh thông thường tại Việt Nam (do bộ Y Tế Việt Nam qui định)
-Nguyễn Bá
Tĩnh trong” Tuệ Tĩnh Toàn Tập” có nêu lên 25 Bệnh án về lỵ và giới thiệu 51
phương thuốc chữa trị lỵ bằng cây thuốc Việt Nam.
-Lê HưÕu Trác
trong “Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh” đã dành hơn 9 trang sách trong phần “ Bách
Bệnh Cơ Yếu” và “Y Trung Quan Kiện”để bàn về lỵ.
-Bệnh xảy ra
nhiều vào mùa hè - thu.
B. Bệnh Danh
-Sách Nội Kinh
Tố Vấn gọi chứng này là Trường Tích.
-Sách Nan Kinh
gọi là Đại Phích Tiết
-Sách Kim Quỹ
Ngọc Hàm Kinh của Trương Trọng Cảnh gọi là Hạ Lỵ và Nhiệt lợi (lỵ) Hạ Trọng
-Đời nhà Tùy,
năm 605, sách “ Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận “ của Sào Nguyên Phương ghi lại nhiều
tên gọi khác nhau:
*Xích Bạch
Lỵ. * Huyết Lỵ. * Nùng Huyết Lỵ. * Nhiệt Lỵ.
* Cửu Lỵ
* Hưu Tức Lỵ
-Đời nhà Tống(
năm 960) các sách thuốc ghi là Trệ Hạ.
-Đến đời nhà
Kim, Nguyên (năm 1211_1277) sách thuốc có nhắc đến một loại Lỵ lây lan thành
dịch tên gọi là Thời Dịch Lỵ (theo “Đan Khê Tâm Pháp” của Chu Chấn Hanh (Đan
Khê).
-Lê Hữu Trác
trong “Hải Thượng Y Tôn tâm Lĩnh” nêu ra 11 loại lỵ khác nhau:
* Lãnh Lỵ
* Cổn Lỵ
* Nhiệt
Lỵ * Cổ Độc Lỵ
* Cam Lỵ
* Cấm Khẩu Lỵ
* Kinh Lỵ
* Ngũ Sắc Lỵ
* Hưu Tức Lỵ
* Quát Trường Lỵ
* Hoạt Trường
Lỵ.
-Hiện nay
người ta thường gọi là Lỵ hoặc Hội Chứng Lỵ.
-Từ chuyên môn
của Trung Quốc gọi là Lỵ Tật, Lỵ Tế Khuẩn.
C -Phân Loại
1/Theo Y Học
Hiện Đại:
Dựa vào thể
Bệnh có thể chia làm 2 loại:
a/ Cấp tính:
Bệnh xảy ra nhanh, cấp thời, bao gồm các loại Lỵ Trực Khuẩn, Lỵ Amip (của Y Học
Hiện Đại) hoặc các thể thấp nhiệt, hàn thấp và dịch độc của y học cổ truyền.
b/ Mạn tính:
Do Bệnh Lỵ cấp tính điều trị không đúng cách hoặc không khỏi gây ra. Tương
đương thể Hưu Tức Lỵ của Y Học Cổ truyền.
2/ Phân loại
theo y học cổ truyền:
Theo y học cổ
truyền, có nhiều cách để phân loại chứng Lỵ:
a/ Theo quá
trình diễn biến của Bệnh:
- Sơ Lỵ: Lỵ
mới bắt đầu, chớm nhiễm Bệnh.
- Hưu Tức Lỵ:
Lỵ lúc phát lúc khỏi.
- Cửu Lỵ:
Bệnh đã lâu ngày, kinh niên.
b/ Theo nguyên
nhân gây Bệnh:
·
Do thấp nhiệt gọi là Thấp nhiệt lỵ.
·
Do hư hàn gọi là hư hàn lỵ...
c/ Theo chứng
trạng:
Lỵ kèm theo
cấm khẩu, gọi là Cấm khẩu lỵ.
Lỵ có sắc đỏ
gọi là Xích Lỵ, có đờm gọi là Bạch Lỵ...
-Các nhà
nghiên cứu thuộc Viện Trung Y Thượng Hải đề xuất cách phân chia theo Bát cương
(Biểu-Lý, Hàn-Nhiệt, Hư-Thực, Âm-Dương) cho dễ chẩn đoán và điều trị.
Thực tế lâm
sàng hiện nay thường chỉ còn quy vào 5 loại sau (theo Trung Y Thượng Hải):
. Thấp Nhiệt
Lỵ. Hư Hàn Lỵ
. Cấm Khẩu
Lỵ. Dịch độc lỵ
. Hưu tức lỵ
D-Nguyên Nhân
1/ Theo Y Học
Hiện Đại:
Sách “ Sổ Tay
Thầy Thuốc Thực Hành” phân làm 2 loại chính:
a/ Do Amip
(Dysenteric Amibienne), một loại trùng do bác sĩ Loesh và Kartulis tìm ra năm
1875.
b/ Do trực
khuẩn ngắn không di động, gam âm, gây ra. Có thể do:
+ Shigella
Amigua hoặc trực khuẩn Schmitz.
+ Shigella
Dysenteriae hoặc trực khuẩn Shiga.
+ Shigella
Paradysenteriae hoặc trực khuẩn Flexner.
+ Shigella
Sonnei hoặc trực khuẩn Sonne.
2/ Theo Y Học
Cổ Truyền:
Sách “Nội Khoa
Học Thượng Hải và Thành Đô” ghi: Nguyên nhân gây ra Bệnh lỵ:
a/ Thấp Nhiệt:
Lúc giao tiếp
giữa mùa hè và thu, nhiệt tà bị uất, thấp khí bị ứ trệ cùng với nhiệt độc kết
hợp với nhau hóa thành máu và mũi, gây ra Lỵ.
+ Thấp Nhiệt
gọi là Bạch Lỵ.
+ Nhiệt nhiều
gọi là Xích Lỵ.
b/ Ăn uống
không điều độ hoặc thức ăn không sạch, ăn nhiều thức ăn béo (cao lương mỹ vị)
làm hại Tỳ Vị, Tỳ Vị hư không thắng nổi Thấp làm cho Thấp ủng trệ bên trong nung
đốt tạng phủ, khí huyết ngưng trệ sinh ra máu và mũi.
Người hay ăn
các thức ăn sống, lạnh, hàn thấp tích trệ ở trong kèm theo ăn uống không cẩn
thận, hàn thấp làm tổn thương (hại) Tỳ Vị, khí của Đại Trường bị trở ngại làm
tổn hại đến doanh (dinh) huyết sinh ra chứng Hàn Thấp Lỵ.
c/ Cảm thụ
phải thời hành dịch khí, ủng trệ ở trường vị, hợp với khí huyết hóa ra mũi, máu,
thành Bệnh Dịch Độc Lỵ.
d/ Trình Chung
Linh trong sách “Y Học Tâm Ngộ “ đời nhà Thanh (1644) nêu ra 3 nguyên nhân:
-Tích nhiệt
-Cảm phong hàn
bế tắc
-Do ăn uống
thức ăn sống, lạnh.
Như vậy,
nguyên nhân gây ra Bệnh Lỵ có thể gom thành 2 loại:
+ Ngoại nhân:
Do ngoại tà Hàn, Thấp,Nhiệt, vá Dịch độc.
+ Nội nhân:Do
ăn uống làm tổn thương Tỳ Vị.
Tuy chia
nguyên nhân gây Bệnh ra làm 2 loại như trên nhưng 2 yếu tố này luôn ảnh hưởng
đến nhau:
+ Có khi Bệnh
ở trong nhân Bệnh ở ngoài mà dễ phát sinh (chính khí suy-tà khí thịnh).
+ Có khi Bệnh
bên ngoài nhân có Bệnh ở trong mà phát sinh (tà khí thịnh-chính khí suy).
E-Cơ Chế Sinh
Bệnh
1/ Theo y học
hiện đại:
Sách “ Sổ Tay
Thầy Thuốc Thực Hành” giải thích:
a) Do Amip:
Lây do nuốt phải ký sinh vật Amip, nhất là thể đơn bào, lây trực tiếp do tay
bẩn... hoặc gián tiếp qua nước uống, thức ăn còn sống... Amip xâm nhập vào cơ
thể, cư trú ở thành ruột, phát triển và gây nên những ổ loét ở ruột già và ruột
non, kích thích niêm mạc ở ruột già và ruột non gây ra đau quặn, mót rặn, tiết
ra nhiều niêm dịch (chất nhầy, mũi) hoặc làm rách các mao mạch, tĩnh mạch ở ruột
gây ra có máu.
b) Do trực
trùng Shigella, Shamonella... lây theo đường tiêu hóa do ăn uống phải các thức
ăn bị nhiễm độc, thường xảy ra vào mùa hè. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Viện
Vệ Sinh Phòng Dịch, lỵ thường xảy ra thành dịch vào các tháng 8-9 trở đi. Khi
trực khuẩn xâm nhập vào thành ruột, các vi khuẩn bám vào đó (nơi có môi trường
thuận lợi cho chúng phát triển) và Đại Tràng (ruột già) bị kích thích sinh ra co
thắt thành ruột già, gây ra đau bụng quặn, viêm và đau thắt làm cho phải đi ỉa
nhiều lần, đi ra chất nhầy (mũi), xung huyết hoặc xuất huyết, làm cho phân có
máu hoặc máu tươi và nếu trực tràng bị loét thì cơ trơn hậu môn bị co bóp gây ra
mót rặn.
2/ Theo Y Học
Cổ Truyền
Sách “ Trung Y
Học Nội Khoa Giảng Nghĩa” giải thích:
Thấp, Hàn,
Nhiệt... từ bên ngoài xâm nhập vào hoặc Tỳ Vị bị hư yếu, làm cho các tà khí đó
xâm phạm vào Trường Vị làm cho lạc mạch ở ruột bị tổn thương, khí huyết cùng với
tà độc hợp lại hóa thành máu, mũi (chất nhầy).
F -Triệu Chứng
Mạnh Bái Lâm ở
Viện Nghiên Cứu Trung Y Tĩnh Vũ Hán (Trung Quốc), qua quan sát 22 người Bệnh,
đã nhận định là Bệnh lỵ có các triệu chứng sau:
1.-Mót rặn
22/22
2.-Bụng đau
21/22
3.-Bụng dưới
ấn đau 19/22
4.-Bụng dưới
đầy trệ 13/22
5.-Sốt 9/22
6.-Ăn uống
giảm 8/22
7.-Sợ gió (ố
phong) 5/22
8.-Khát
5/22
9.-Miệng đắng
5/22
10.-Tiểu đỏ
4/22
+ Về mạch thì:
-Mạch Nhu Hoãn
10/22
-Hoạt
6/22
-Hoãn
5/22
-Phù Sác
1/22
Như vậy, Bệnh
Lỵ là 1 hội chứng gồm:
+ Biểu chứng:
sốt, sợ gió, mạch phù-sác.
+ Lý chứng:
Bụng đau,mót rặn, khát.
+ Hư chứng:
Mạch Huyền Hoãn.
+ Bán biểu bán
lý: miệng đắng, mạch Huyền
1/ Thấp nhiệt
lỵ: Bụng đau quặn, tiêu ra máu lẫn nhầy mũi, mót rặn liên tục, hậu môn nóng rát,
nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt Sác thường gặp ở Lỵ Amip.
Phân có máu và mũi vì vậy gọi là Xích Bạch Lỵ. Thấp Nhiệt tích trệ trong ruột,
khí huyết bị trở ngại, làm cho chức năng truyền đạo thất thường gây ra đau bụng
quặn, mót rặn. Thấp nhiệt hun đốt làm khí huyết bị tổn thương, biến thành chất
dính nhờn, làm cho phân có lẫn máu và chất nhờn. Hậu môn nóng rát, tiểu ngắn và
đỏ là biểu hiện của Thấp Nhiệt dồn xuống gây ra. Rêu lưỡi nhờn là Thấp, màu vàng
là Nhiệt, mạch Hoạt là Thực chứng, mạch Sác là Nhiệt.
2/ Lỵ Thể Hàn
Thấp: Ỉa phân mũi nhiều hơn máu, hoặc toàn ra mũi, thỉnh thoảng bụng đau, mót
rặn, sợ lạnh, mệt mỏi, không muốn ăn uống, mạch hoãn (NKHT.Đô) hoặc Nhu Hoãn
(NKHT. Hải). Thường gặp ở Lỵ Amip bán cấp, gọi là Bạch Lỵ. Do hàn thấp trệ ở bên
trong, làm cho khí cơ bị trở ngại gây ra mót rặn, bụng đau. Hàn Thấp làm tổn hại
phần khí, ví vậy phân có chất trắng, nhầy nhiều hơn máu (đỏ). Sợ lạnh, mệt mỏi
là do dương khí ở Tỳ Vị bị Hàn thấp làm tổn thương.
3/ Lỵ do dịch
độc: Bệnh phát nhanh, sốt cao, khát, đầu đau, bụng đau dữ dội, mót rặn nhiều,
ỉa ra máu tươi hoặc giống máu cá, nhiều táo, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch
sác (NKHT. Đô) hoặc Hoạt sác (NKHT. Hải). Thường gặp ở Lỵ Trực Khuẩn, thường
xuất hiện thành dịch và gây ra triệu chứng nhiễm độc toàn thân. Dịch độc rất
mạnh cho nên phát Bệnh mau. Dịch độc nung đốt trường vị, khí huyết gây ra máu
mủ tím tươi. Nhiệt thịnh bên trong nên gây ra sốt cao. Nhiệt tà mạnh làm tổn
thương trên dịch gây ra khát. Đầu đau là do nhiệt khí bốc lên trên, phiền táo là
do nhiệt tà hun đốt doanh huyết. Bụng đau quặn và mót rặn nhiều là vì dịch độc
mạnh, chất lưỡi đỏ sẫm, mạch Sác đều là nhiệt độc ở trong gây ra.
4/Hưu Tức Lỵ:
Bệnh lúc phát lúc khỏi, lâu ngày không dứt, mệt mỏi, sợ lạnh, muốn nằm. Khi đ
ỉa bụng đau quặn, đại tiện ra máu mũi dẻo, dính, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhờn,
mạch Tế (NKHT. Hải), mạch Hoạt vô lực (NKHT. Đô).
Vì chính khí
hư, tà khí trệ lâu ngày làm cho đại tiểu tiện thất thường, hàn nhiệt lẫn lộn,
Bệnh kéo dài lâu ngày khó khỏi, khỏi rồi lại phát. Tỳ dương hư yếu, Thận khí
suy yếu, mệt mỏi, sợ lạnh, thích nằm, khi đi ỉa bụng đua quặn, phân dẻo dính máu
mũi lẫn lộn là do tà khí còn trệ ở trường vị, khí huyết hư yếu gây ra. Mạch Tế
hoặc Hoạt không lực là biểu hiện chính khí suy.
5/Cấm khẩu Lỵ:
không ăn uống được, đi lỵ, muốn ói, ói mửa nặng thì gầy ốm đi, tinh thần mê mệt,
rêu lưỡi vàng nhạt, mạch nhu sác.
Thử Thấp nhiệt
độc ẩn náu trong ruột, công lên Vị, Vị mất điều hòa, không có sức vận hóa vì
vậy không ăn được. Vị khí nghịch lên gây ra muốn ói, ói mửa, da thịt gầy sút,
tinh thần mỏi mệt là dấu hiệu của Vị khí bị tổn thương nặng. Rêu lưỡi vàng
nhờn, mạch nhu sác đều là do nhiệt độc hun đốt gây ra.
G-Biến Chứng
1/ Theo Y Học
Hiện Đại
Theo sách “
Hướng Dẫn Thầy Thuốc Thực Hành”:
a) Lỵ Amip: Lỵ
Amip không chữa tốt có thể di Bệnh qua đường tĩnh mạch hoặc bạch huyết hoặc lan
truyền sang bên cạnh gây ra:
-Viêm Gan:
thường gặp dưới thể áp xe Gan.
-Aùp xe phổi:
có thể do áp xe gan tràn vào phổi hoặc do Bệnh di sang.
b) Lỵ trực
khuẩn không điều trị đúng và tốt có thể gây ra 1 số biến chứng như:
- Chảy máu
ruột, thủng ruột...
-Thấp khớp do
Lỵ (xuất hiện trong thời kỳ toàn phát hoặc đang phục hồi sức).
-Liệt nhưng
khỏi mà không để lại di chứng (hiếm gặp).
-Vào mắt: Hội
chứng Reiter (viêm màng tiếp hợp, ống tiết niệu và khớp), viêm mống mắt.
2/ Theo y học
cổ truyền
Sách Trung Y
Học Nội Khoa Giảng Nghĩa nêu ra một số biến chứng theo quan điểm là: trường vị
có liên quan đến các tạng phủ khác theo thuyết Tạng Tượng của y học cổ truyền:
a) Dịch độc và
thấp nhiệt công lên trên Vị làm cho ăn uống không được gây ra chứng cấm khẩu Lỵ.
b) Bệnh Lỵ
lâu ngày kéo dài làm cho Tỳ khí suy yếu thành ra Cửu Lỵ.
c) Ly lâu ngày
không khỏi, tái đi tái lại nhiều lần, không chỉ tổn thương Tỳ Vị mà còn ảnh
hưởng đến Thận nữa.
II- Điều Trị
Theo Lê Hữu
Trác, trong “Bách Bệnh Cơ Yếu” sách “Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh” thì cách chữa
Lỵ:
-Mới phát thì
nên tẩy trừ, Bệnh lâu ngày thì nên ôn bổ, cần nhất là phải chú trọng đến vị khí
.
-Sinh ra Lỵ
phần nhiều là gốc ở Tỳ, Thận... bổ trung khí để giúp cho Tỳ Vị, giúp thêm Mệnh
Môn để phục hồi chân âm thì nguyên khí vượng mà vận hóa khỏe được, âm dương hòa
mà bế tàng vững thì làm gì còn chứng hỏa xông lên để uất ở trường vị nữa.
-Dùng phép
“thông nhân thông dụng”, tức là phép Hạ. Nhưng phép Hãn (làm cho ra mồ hôi),
phép thổ (làm cho ói ra) cũng gọi là thông... vì “ không có tích thì không thành
chứng lỵ”.
Theo các sách
giáo khoa y học cổ truyền, các bài thuốc điều trị lỵ có thể gom lại như sau:
1/ Thuốc điều
khí: Thông đạo cho hết mót rặn vì thuốc này làm cho chức năng vận động của bộ
tiêu hóa được điều hòa, không ngừng trệ, ủng tắc nữa. Các vị thuốc thường dùng
là Binh lang,, Mộc hương, Trần Bì, Chỉ xác, Chỉ Thực, Thanh Bì...
2/ Bổ Can đởm:
hành huyết, lương huyết, để làm cho hết máu mũi. Các vị thuốc thường dùng: Bạch
thược, Đương Quy, Đan Bì, Huyền sâm, Xuyên Khung, Xích Thược, Liên Tiền Thảo...
3/ Tư âm (
Tăng tân dịch): trong trường hợp nóng nhiều, mất nước do lượng thải ra nhiều
lần. Thuốc thường dùng: Mạch môn, Sinh Địa, Thạch Lộc...
4/ Tăng thêm
sức ấm: Nếu cơ thể suy yếu do ỉa nhiều lần, mất nước, mất tân dịch (và các chất
điện giải), tay chân lạnh. Thuốc thường dùng: Can Khương, Phụ tử, Ngạnh Mễ,
Trần Mễ...
5/ Bổ Thận:
Nếu cơ thể suy kiệt mà thuốc bổ thường và bổ Tỳ không giải quyết được, thường
dùng Thục Địa, Câu Kỷ Tử, Phá Cố Chỉ, Đỗ Trọng...
6/ Thu sáp và
cố thoát: Nếu đi ỉa nhiều lần quá. Thuốc thường dùng: Kha Tử, Xích Thạnh Chi,
Nhục Đậu Khấu, Anh Túc Xác...
Lâm Sàng
Điều Trị
1) Thấp Nhiệt
Lỵ:
+ NKHT. Hải:
Thanh nhiệt, hóa thấp, giải độc, điều khí, hành huyết. Dùng bài Thược Dược Thang
Gia giảm: Bạch thược, Đương Quy, Kim Ngân Hoa, Binh lang, Hoàng Cầm, Mộc hương,
Đại Hoàng, Hoàng Liên, Cam Thảo. Sắc uống.
(Đây là bài
Thược Dược Thang gia giảm ở sách “Tố Vấn Bệnh Cơ Khí Nghi Bảo Mệnh Tập” của Lưu
Hà Gian, bỏ Nhục Quế thêm Kim Ngân Hoa. Trong bài Bạch thược, Cam thảo và Đương
quy để hành huyết, hòa doanh, ảnh hưởng đến việc bài tiết máu mũi (chất nhầy) vì
huyết hành thì máu mũi sẽ giảm; Binh lang và Kim Ngân Hoa để thanh nhiệt giải
độc; Cam thảo có tác dụng điều hòa các vị thuốc và giảm đau).
-NKHT.Đô:
Thanh nhiệt, trừ thấp, điều khí, hành huyết.
Dùng bài Cầm
Thược Thang gia giảm (Ôn Bệnh Điều Biện): Bạch thược 12g, Hoàng liên 6g, Mộc
hương 4g, Hoàng Cầm 8g, Hậu Phác 8g, Trần bì 6g. Sắc uống ấm.
-Sách TBTYKN
Phương giới thiệu 2 bài: Chỉ Lỵ Tán và Vương Thái Sư Trị Lỵ Kỳ Phương.
+ Chỉ Lỵ Tán
(Y Học Tâm Ngộ): Cát Căn (Sao) 640g, Tùng La Trà (chè lâu năm) 640g, Khổ Sâm
640g, Xích Thược (sao rượu) 480g, Trần bì 640g, Mạch Nha (sao) 480g, Sơn Tra
480g. Tán bột. Ngày uống 12-16g.
Cát căn để cổ
vũ vị khí, Khổ Sâm, trà lâu năm để thanh trừ thấp nhiệt; Mạch Nha, Sơn Tra để
tiêu trừ thực tích; Xích thược, Trần bì để hành huyết.
+ Vương Thái
Sư Chỉ Lỵ Kỳ Phương: Hoàng liên 8g, Đào nhân 6g, Mộc hương 3,2g, Hoàng Cầm 8g,
Chỉ xác 12g, Sơn tra nhục 12g, Bạch thược 8g, Thanh bì 6g, Địa du 12, Đương quy
6g, Tân lang 6g, Cam thảo 4g, Hồng hoa 2g, Hậu phác 6g. Sắc uống.
(Đây là bài
Liên Mai Thang trong sách” Ôn Bệnh Điều Biện” thêm Sa sâm, Thạch Hộc, Mộc Qua
và Tây Dương Sâm).
+ Thược Dược
Thang gia giảm: Đương quy 50g,Chỉ xác 16g, Tửu quân 10g, Binh lang 16g,
Lai phục tử 10g, Nhục quế 6g, Bạch thược 50g, Cam thảo 6g. Sắc uống.
+ Phức Phương
Nha Đảm Tử Hoàn: Nha đảm tử (bỏ vỏ) 60g, Quán chúng 20g, Ngân hoa (than) 20g,
Sáp vàng 80g. Thuốc tán thành bột, nấu sáp cho chảy ra, trộn thuốc bột làm hoàn.
Ngày uống 8-12g.
-Sách Y Học Cổ
Truyền Dân Tộc (VN) dùng:
+ Thược Dược
Thang bỏ Quế Chi Gia Giảm: Hoàng cầm 12g, Bạch thược 8g, Binh lang 6g, Hoàng
liên 12g, Đương quy 8g, Cam thảo 6g, Kim ngân hoa 20g, Mộc hương 6g, Đại
hoàng 4g.
Sắc uống.
+ Khổ Luyện
Đại Hoàng Viên: Khổ luyện tử 20g, Hạt dưa hấu 20g, Hạt cam 2g, Hoàng liên gai
20g, Bồ kết 20g, Đại hoàng 20g. Tán bột, ngày uống 20g.
2/ Lỵ Do Hàn
Thấp
-Sách NKHT.
Hải: Ôn trung, táo thấp, giải độc. Dùng bài Ôn Tỳ Thang Gia Giảm: Can Khương,
Đại hoàng, Thần khúc, Phụ tử, Mộc hương, Sơn tra, Cam thảo, Chỉ thực.
(Đây là bài Ôn
Tỳ Thang của sách Thiên Kim Phương, bỏ Nhân sâm và Quế tâm, thêm Mộc hương, Chỉ
thực, Thần khúc và Sơn tra. Trong bài Can khương, Phụ tử để ôn trung trừ hàn,
Cam thảo, Đại hoàng để điều hòa, giải độc, Mộc hương để hành khí, Chỉ Thực,
Thần Khúc, Sơn Tra để tiêu tích, chữa lỵ).
-Sách NKHT.
Hải: Ôn dương, vận Tỳ, tán hàn, hóa thấp.
Dùng bài Bán
Linh Thang Gia Giảm (Ôn Bệnh Điều Biện): Bán hạ 20g, Xuyên liên 4g, Thông thảo
32g, Phục linh 2g, Hậu phác 12g. Sắc uống.
-Sách ‘Thiên
Gia Diệu Phương’: Tiêu tích trệ, tán hàn tà.
Dùng bài Ngũ
Tiêu Ẩm gia giảm: Tiêu tra 20g, Xuyên phác 20g, Nguyên hồ 12g, Mạch nha 12g, Đại
bạch 8g, Mộc hương 4g, Kiến khúc 12g, Bào khương 6g, Nhị sửu đều 20g.
Sắc uống.
(Tiêu Tra,
Kiến Khúc, Mạch Nha, Đại Bạch để tiêu tích, trừ hư; Xuyên Phác, Mộc hương,
Nguyên Hồ để hành khí, giảm đau, Bào khương để ôn hạ nguyên, tán hàn; Nhị Sửu để
xổ nhẹ, tuy xổ mà không làm hại chính khí, đẩy tà khí ra theo phân).
-Sách ‘Tân
Biên Trung Y Học Khái Yếu’ dùng bài Bất Hoán Kim Chính Tán (Thái Bình Huệ Dân
Hòa Tễ Cục Phương).: Hậu phác 6g, Hoắc hương 8g, Bán hạ (chế) 8g, Trần bì 6g,
Nhục Quế 4g, Táo 4 trái, Mộc hương 6g, Thương truật 12g, Gừng 4g, Sa nhân 6g.
Sắc uống.
3/ Dịch Độc Lỵ
-NKHT. Hải:
thanh nhiệt, lương huyết, giải độc. Dùng bài Bạch đầu ông Thang Gia Vị:
Bạch đầu ông
40g, Trần bì 12g, Xích Thược 12g, Hoàng liên 24g, Đan Bì 12g, Hoàng bá 12g,
Hoàng Cầm 12g, Kim Ngân Hoa 20g. Sắc uống.
(Đây là bài
Bạch Đầu Ông Thang của sách ‘Thương Hàn Luận’ thêm Kim ngân hoa, Hoàng Cầm, Xích
Thược và Đan Bì. Bạch đầu ông lương huyết, giải độc; Hoàng Liên, Hoàng Bá, Trần
bì để hóa thấp, thanh nhiệt; Kim Ngân Hoa, Hoàng Cầm, Xích Thược, Đan Bì thanh
nhiệt, lương huyết).
-NKHT.Đô:
thanh nhiệt, giải độc, dùng bài Bạch Đầu Ông Thang (Thương Hàn Luận):
Bạch đầu ông
40g, Đan Bì 12g, Xích thược 12g, Trần bì 12g, Kim Ngân Hoa 20g, Chỉ xác 8g,
Hoàng bá 12g, Địa du 20g, Mộc hương 8g, Hoàng liên 24g,
(Đây là bài
Bạch Đầu Ông Thang thêm Đơn bì, Kim ngân hoa, Địa du, Xích thược, Chỉ xác và
Mộc hương).
Hoặc dùng: Rau
Sam Cỏ Mực Viên: Cỏ mực 50g, Hạt cau 20g, Vỏ rụt 20g, Chỉ xác 20g, Lá trắc bá
20g, Hoa hòe 20g, Rau sam 40g. Tán bột. Ngày uống 20g với nước vối.
-Sách Thiên
Gia Diệu Phương dùng bài Bạch Đầu Ông Thang Gia Vị: Bạch đầu ông 20g, Trần bì
6g, Nha đảm tử (bỏ vỏ) 10 hạt, Hoàng liên 12g, Hoàng bá 12g. 4 vị trên sắc
thành thang. Còn Nha đảm tử, dùng Quế nhục bao lại, nuốt, uống với nước thuốc
sắc trên.
4/ Hưu Tức Lỵ
-NKHT.Hải:
Kiện Tỳ, bổ khí, thanh nhiệt, hóa thấp.
Lúc đi lỵ
nhiều thì dùng phép hóa thấp thanh nhiệt là chính khí bớt rồi thì dùng phép Kiện
Tỳ, bổ khí là chính.
·
Khi phát, dùng bài Thược Dược Thang hoặc Bạch Đầu Ông Thang (xem trên).
·
Khi không phát, dùng bài: Kiện Tỳ Hòa Vị Thang: Nhân sâm 12g, Phục linh 12g, Mộc
hương 8g, Bạch truật 12g, Cam thảo 4g, Sa nhân 8g, Bán hạ 8g, Trần bì 4g. Sắc
uống.
(Đây là bài
Hương Sa Lục Quân Tử thang (Tứ Quân + Bán hạ, Trần bì) thêm Mộc hương, Sa
nhân. Nhân sâm bổ khí, Bạch truật kiện Tỳ, vận thấp, Phục linh giúp Bạch truật
kiện Tỳ, vận thấp, Cam thảo giúp Nhân sâm ích khí hòa trung, Bán hạ, Trần bì
táo thấp, hóa đàm, Mộc hương, Sa nhân tỉnh Tỳ, hòa Vị, sướng trung, điều khí,
lý cơ).
-NKHT.Đô: Ích
Khí, vận Tỳ, phù chính, khu tà. Dùng bài Sâm Linh Bạch Truật Tán (Cục Phương):
Liên Nhục Tử (bỏ vỏ) 50g, Bạch Linh 100g, Ý dĩ nhân 50g, Nhân sâm 100g, Bạch
biển đậu (ngâm nước gừng, bỏ vỏ, sao sơ) 75g, Chích thảo 100g, Bạch truật 100g,
Hoài Sơn 100g. Tán bột. Mỗi lần dùng 8g uống với nước sắc Đại táo.
5/ Cấm Khẩu Lỵ
-NKHT.Hải: Hòa
vị, giáng trọc tà dịch, thanh nhiệt. Dùng bài Khai Cấm Tán gia giảm: Bán hạ, Đan
sâm, Trần bì, Hoàng liên, Phục linh, Trần Mễ, Thạch xương bồ, Đông qua tử, Hà
diệp đế, Đại hoàng.
(Đây là bài
Khai Cấm Tán của sách Y Học Tâm Ngộ, bỏ Nhân Sâm, Thạch Liên Tử, thêm Bán hạ,
Đại Hoàng. Bán hạ,Trần Bì, Phục linh để giáng nghịch, Thạch xương bồ, Đông qua
tử, Hà diệp đế, Đại hoàng để thông phủ, Hoàng liên để thanh nhiệt, Trần Mễ để
hòa trung.
-Sách TBTYKN
Phương dùng:
+ Cấm Khẩu Lỵ
Phương: Ngó Sen (loại già) giã nát, vắt lấy nước, chưng chín, hòa với ít đường
cho uống.
+ Sâm Linh
Bạch Truật Tán Gia Vị (Ôn Bệnh Điều Biện): Nhân sâm 8g, Ý dĩ nhân 6g, Bào khương
4g, Bạch truật 6g, Cát cánh 4g, Nhục đậu khấu 4g, Phục linh 6g, Sa nhân (sao)
2,8g, Chích thảo 2g, Biển đậu (sao) 8g. Tán bột. Mỗi lần dùng 6g, uống với nước
cơm sôi.
(Đây là bài
Sâm Linh Bạch Truật Tán của sách Cục Phương, bỏ Thạch liên tử, Hoài Sơn, thêm
Cát cánh, Sa nhân, Bào khương và Nhục đậu khấu).
6/ Lỵ Do Hư
Hàn
+ NKHT. Hải:
Ôn bổ Tỳ Thận. Dùng bài Dưỡng Tạng Thang gia giảm (Vệ Sinh Bảo Giám).
Kha Tử, Bạch
truật, Mộc hương, Anh túc xác, Bạch thược, Nhục quế, Nhục đậu khấu, Nhân sâm,
Cam thảo, Đương quy.
(Đây là bài
Chân Nhân Dưỡng Tạng Thang của sách Hòa Tễ Cục Phương, thêm Bạch thược. Dùng
Anh túc xác, Kha tử để cố sáp; Nhân sâm, Bạch truật để bổ khí; Nhục đậu khấu,
Nhục Quế để ôn Tỳ Thận; Mộc hương để hành khí; Đương Quy, Bạch thược để điều
huyết).
THUỐC NAM
TRỊ LỴ
(Lỵ Amip
(Xích bạch lỵ, thấp nhiệt lỵ, Hưu tức lỵ):
- Rau sam tươi
250g hoặc 50gkhô, sắc với 600ml nước còn 100ml. Trẻ nhỏ dưới 1/2 tuổi 1 ngày
uống 4 lần, mỗi lần 5ml. Trẻ 1/2 đến 1 tuổi, ngày 4 lần, mỗi lần 10ml. Trẻ 2
tuổi trở lên mỗi tuổi thêm 5 ml (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Sầu (thầu)
đâu (xoan) rừng, mỗi ngày 10-14 quả (có thể tới 20 quả), tán nhỏ, làm thành viên
0,10g (toàn quả) hoặc 0,02g (nhân). Uống liên tục 3-4 ngày đến 1 tuần. Thường
chỉ 1-2 ngày là khỏi nhưng nên uống liều 5- 7 ngày cho khỏi hẳn (Những Cây Thuốc
Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Hoàng Liên,
tán bột. Ngày uống 4-6g. Chia làm 3 lần uống. Thời gian điều trị 7-15 ngày
(Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Hoàng Đằng,
tán bột, làm thành viên 0,10g. Ngày uống 10-20 viên (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc
Việt Nam).
- Măng Cụt, 10
vỏ (quả), cho vào nồi đất hoặc nồi đồng (tránh dùng nồi sắt hoặc tôn), thêm nước
vào cho ngập rồi đun sôi kỹ trong vòng 15 phút. Ngày uống 3-4 chén thuốc (Những
Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Vỏ quả măng
cụt khô 60g, hạt mùi 6g, hạt thì là 6g, nước 1200ml. Đun sôi, sắc kỹ cho cạn còn
600ml. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 120ml (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Kha Tử 12
quả, 6 quả để sống, 6 quả nướng, bỏ hạt, sao vàng, tán bột (Những Cây Thuốc Và
Vị Thuốc Việt Nam).
+ Nếu Lỵ ra
máu (xích lỵ), uống với nước sắc Cam thảo (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt
Nam).
+ Nếu Lỵ ra
mũi (bạch lỵ), uống với nước sắc Cam thảo nướng (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc
Việt Nam).
CHÂM CỨU TRỊ LỴ
+ Sách ‘Châm
Cứu Học Thượng Hải’: Thanh lợi thấp nhiệt, sơ điều trường Vị.
Châm Thượng cự
hư (hoặc Túc tam lý), Thiên xu.
. Nôn mửa thêm
Nội quan; Lý cấp hậu trọng thêm Quan nguyên; Đi cầu nhiều lần thêm Chỉ tả huyệt;
Sốt thêm Khúc trì. Châm kích kích thích mạnh, không lưu kim hoặc lưu kim 30
phút, thỉnh thoảng vê kim. Mỗi ngày châm 1-3 lần. Bệnh giảm thì châm cách ngày,
cho đến khi khỏi.
(Thượng cự hư
là huyệt hợp của Đại trường ở bên dưới, trị bệnh ở ruột; Thiên xu là mộ huyệt
của Ddaij trường, hai huyệt phối hợp có tác dụng thông lợi thấp nhiệt ở trường
vị. Nôn mửa thêm Nội quan để điều hòa Vị; Trước nhẹ sau nặng thêm Quan nguyên là
mộ huyệt của Tiểu trường để trừ ứ trệ; Sốt thêm Khúc trì để sơ tiết nhiệt; Chỉ
tả huyệt là huyệt đặc hiệu để trị tiêu nhiều lần).
Nhĩ Châm: Đại
trường, Tiểu trường, Dưới vỏ, Giao cảm, Thần môn. Mỗi ngày châm 1-2 lần, kích
thích mạnh, lưu kim 15-20 phút (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Cứu: thường
dùng trong lỵ mạn tính. Cứu Tề trung, trung quản, Thiên xu, Tỳ du, Thận du (Châm
Cứu Học Thượng Hải).
Túc
Châm: Thường dùng huyệt số 8 và số 5 (Châm Cứu Học Thượng Hải).
+ Tân Biên
Trung Y Học Khái Yếu: Thanh nhiệt, hóa thấp, điều khí, hòa huyết.
Châm tả Hợp
cốc, Thiên khu, Thượng cự hư.
(Hợp cốc là
nguyên huyệt của kinh Đại trường, Thiên xu là mộ huyệt của kinh Đại trường,
Thượng cự hư là huyệt hợp của Đại trường ơ phía dưới. Phối hợp 3 huyệt này có
tác dụng thông điều khí huyết ơẻ Đại trường).
Gia giảm: Dịch
độc lỵ thêm Thập tuyên, Đại chùy, châm ra máu để tiết nhiệt, giải độc. Hàn thấp
lỵ: thêm Âm lăng tuyền, Khí hải, châm bình bổ bình tả để ích khí, hóa thấp. Cấm
khẩu lỵ thêm tả Trung quản, bổ Nội quan để hòa Vị, chỉ ẩu. Hưu tức lỵ, dương hư
thêm bổ Thận du, Tỳ du để ôn bổ Tỳ Thận; Âm hư thêm Chiếu hải, bình bổ bình tả
để tư âm, dưỡng huyết.
+ Cứu Giáp
tích huyệt 1 tráng (Tư Sinh Kinh).
+ Hợp cốc, Tam
lý, có thể thêm Trung lữ du (Tạp Bệnh Huyệt Pháp Ca).
+ Xích lỵ: Nội
đình, Ẩn bạch, Khí hải, Chiếu hải, Nội quan. Bạch lỵ: Ngoại quan, Trung quản, Ẩn
bạch, Thiên xu, Thân mạch (Châm Cứu Đại Thành).
+ Xích bạch
lỵ: Trường cường, Mệnh môn. Trước nhẹ sau nặng: Hạ quản, Thiên xu, Chiếu hải.
Cửu lỵ: Trung quản, Tỳ du, Thiên xu, Tam tiêu du, Đại trường du, Túc tam lý, Tam
âm giao, đều cứu (Thần Cứu Kinh Luận).
+ Sách ‘Châm
Cứu Học Giảng Nghĩa’: Chọn huyệt ở kinh thủ và túc Dương minh làm chính. Châm
tả. Thiên về hàn thì cứu. Lỵ lâu ngày thêm Tỳ và Thận.
Huyệt chính:
Hợp cốc, Thiên xu, Thượng cự hư.
Thấp nhiệt
thêm Khúc trì, Nội đình; Hàn thấp thêm Trung quản, Khí hải; Cấm khẩu thêm Trung
quản, Nội đình, Nội quan; Hưu tức lỵ thêm Tỳ du, Vị du, Quan nguyên, Thận du.
(Hợp cốc là
nguyên huyệt của kinh Đại trường, Thiên xu là mộ huyệt của kinh Đại trường,
Thượng cự hư là huyệt Hợp ở dưới của kinh Đại trường. Bệnh lỵ chủ yếu là bệnh ở
Đại trường, vì vậy dùng 3 huyệt đó để thông điều khí ở Đại trường, làm cho khí
được điều hòa, thấp được hóa, trệ được hành. Khúc trì, Nội đình để thanh nhiệt ở
trường vị; Trung quản hòa vị khí, hóa thấp, giáng trọc; Khí hải điều khí để hành
trệ, cứu có thể ôn thông tán hàn. Nội quan là biệt lạc của thủ Quyết âm, thông
giáng nghịch khí của Tam tiêu. Tỳ du, Vị du điều bổ trung khí, bổ sung cho nguồn
sinh hóa. Quan nguyên, Thận du bồi bổ nguyên khí tạng Thận làm cho chính khí
vượng thịnh thì trệ tự hóa (Châm Cứu Học Giảng Nghĩa).
+ Trị lỵ mạn tính: Quan
nguyên, Khí hải, Tỳ du, Thận du, Đại trường du, Tam âm giao, Túc tam lý. Mỗi
ngày dùng 2-3 huyệt, cứu 10-15 phút (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).
Nhĩ Châm
Chọn huyệt Đại
trường, Tiểu trường, Trực trường hạ đoạn, Thần môn, Tỳ, Thận, Vị. Mỗi lần chọn
3-5 huyệt. Châm kích thích mạnh, ngày 1-2 lần. Lưu kim 20-30 phút
Y ÁN VỀ KIẾT LỴ
Bệnh Án
Lỵ Do Thấp Nhiệt
(Trích trong
“Thạch Thất Bí Lục” của Trần Sĩ Đạc)
“Một người
Bệnh trước đi tả sau đó chuyển thành lỵ bụng đau, lý cấp hậu trọng, muốn đi ỉa
nhưng không ỉa được, khát nước,tiểu ít, bụng dưới đầy... Chẩn đoán là Lỵ do
thấp nhiệt nặng cho dùng bài “Phân Giải Thấp Nhiệt”:
Xa Tiền Tử 8g,
Hoạt thạch 20g, Chỉ xác 8g, Hậu Phác 8g, Cam Thảo 4g, Binh lang 8g, Hoàng Liên
8g
(Dùng Xa Tiền
Tử để lợi thủy, Hoàng liên để thanh nhiệt, Hậu phác để phân thanh trọc, chỉ uế,
khử trệ).Uống 2 thang khỏi Bệnh ”.
Bệnh Án
Lỵ Do Thấp Nhiệt
(Trích trong
‘Thiên Gia Diệu Phương’).
“Bạch XX, nam,
30 tuổi, nông dân. Sáng ngày 4- 7- 1974 đột nhiên phát sốt, rét, ỉa lỏng, ngay
chiều hôm đó đi lỵ ra mủ, máu, mót rặn, đi ỉa liên tục, sau đó vào bệnh viện cấp
cứu.
Kiểm tra:sốt
39oC, huyết áp 120/70mmHg, Bạch Cầu 13.600/mm3, trung tính 80%, Lympho 20%. Thử
phân thấy có nhiều tế bào mủ và hồng cầu.
Chẩn đoán: Lỵ
khuẩn trực cấp. Cho dùng Chloromycetin, Teracyline, thuốc Lỵ đặc hiệu, phối hợp
với truyền dịch, nhưng điều trị đến 4 ngày mà hiệu quả không rõ rệt. Ngày
8-7-74, chuyển sang điều trị bằng YHCT. Khám theo YHCT thấy Bệnh nhân bụng đau,
mót rặn, đi phân lẫn lộn đỏ trắng, hậu môn nóng rát, tiểu ít mà đỏ, chất lưỡi
đỏ, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch Hoạt Sác. Chẩn đoán là Lỵ do thấp nhiệt tích trệ ở
ruột, khí huyết bị ứ tắc, chức năng dẫn truyền bị rối loạn gây ra đau bụng, mót
rặn, thấp nhiệt hun đốt làm tổn thương khí huyết gây ra lỵ. Phân đỏ, trắng lẫn
lộn, hậu môn nóng rát, tiểu ít mà đỏ là do thấp nhiệt trú ở phía dưới. Rêu lưỡi
vàng bẩn, mạch Hoạt Sác cũng là biểu hiện của thấp nhiệt.
Điều trị:
Thanh nhiệt, giải độc, lợi thấp.
Xử phương:
Buổi sáng cho dùng bài Thang Bào Ẩm, buổi tối dùng bài “ Đương quy Thược Dược
Thang
gia giảm”.
-Thang Bào Ẩm:
Mễ xác (Trấu lúa) 10g, Mật ong 30g. Mễ xác sắc lấy nước, hòa mật ong vào, quấy
đều, chia 2 lần sáng và chiều uống.
-Đương quy
Thược Dược Thang Gia Giảm: Đương quy 60g, Mộc hương 4g, Chỉ xác 8g, Bạch thược
60g, Xuyên liên 12g, Binh lang 8g, Phụ tử 4g, Địa du 16g, Hoạt thạch 12g,
Cam thảo 6g. Sắc uống vào buổi tối.
Uống 2 ngày,
các triệu chứng đều hết, hoàn toàn khỏe, xuất viện”.
Bệnh
Án Cửu Lỵ
(Trích trong
“Thạch Thất Bí Lục” của Trần Sĩ Đạc).
“ Người Bệnh
bị lỵ lâu năm, lý cấp hậu trọng, lúc phát lúc khỏi... Chẩn đoán là Bệnh này
không phải là “Hưu Tức Lỵ” mà thật ra là người Bệnh chính khí tuy đã phục hồi
nhưng tà khí vẫn còn dây dưa vì vậy mới có tình trạng lúc phát lúc khỏi như vậy.
Cho uống bài Tẩy Uế Đơn là khỏi:
(Đại hoàng,
Binh lang, Địa du, Hoạt thạch, Hậu phác).
Bêhj Án
Lỵ Amip Mạn Tính
(Trích trong
“Thiên Gia Diệu Phương”)
“Chung X, nam,
11 tuổi, khám ngày 1-10-1963. Người Bệnh khai là tiêu ra máu đã hơn 2 năm. Hai
năm qua đã tốn rất nhiều tiền thuốc mà không khỏi. Hỏi thì được biết các thầy
thuốc trước đây có người chữa theo chảy máu đường ruột, có người chữa về trĩ
nội. Hỏi kỹ biết rằng 3 năm trước đã bị lỵ, tuy đã khỏi nhưng sau đó thường đi
tiêu bất thường, mỗi ngày 3-4 lần, phân lỏng có lúc bụng đau âm ỉ, có lúc thấy
mót rặn. Vọng chẩn sắc mặt vàng nhạt, lưỡi không rêu, chất lưỡi trắng nhạt, môi,
miệng, móng và kết mạc đều trắng bệch, bắt thấy mạch vi, huyền mà hoạt. Phía
dưới rốn bên phải chỗ ruột Sigma co thắt như cuốn thừng, thăm hậu môn không thấy
búi trĩ và dấu vết nứt nẻ ở hậu môn. Căn cứ vào mạch chứng, chẩn đoán là đi tiêu
ra máu do lỵ Amip. Thử phân phát hiện có Amip hoạt động. Cho dùng Phức Phương
Nha đảm tử Hoàn (Nha đảm tử (Khổ Sâm tử) bỏ vỏ 60g, Quán Chúng 20g, Sáp Vàng
80g, Kim Ngân (đốt thành than) 20g. Thuốc tán bột, sáp nấu cho chảy ra, hòa bột
thuốc vào, trộn đều, vê thành hoàn 0,1g. Mỗi ngày, lúc đói, uống 7 hoàn. Sau khi
uống 5 ngày khám thấy đi ngoài ra máu giảm bớt. Sau 10 ngày, không còn tiêu ra
máu nữa. Sau 15 ngày, đại tiện hoàn toàn bình thường, sắc mặt trở nên hồng
nhuận”.
Bệnh Án
Lỵ Do Dùng Phép Hạ Sai
(Trích trong
“Y Tôn Tất Độc” của Lý Sĩ Tài)
“ Trương Cương
Am, vào mùa thu, bị kiết lỵ, đã dùng các vị như Mộc hương, Hoàng Liên,Hậu phác,
Chỉ Thược... đã 2 tháng mà Bệnh vẫn không giảm. Tôi xem mạch thấy Hoạt mà có
lực, đó là do dùng phép Hạ không đúng mà ra. Cho dùng Mộc hương, Hoàng Liên,
Đương Quy, Thược Dược, Trần Bì, Chỉ xác, thêm Đại hoàng 12g, uống xong thổ ra
nhiều thức dơ. Xem mạch thấy còn có lực, vì vậy vẫn dùng phương cũ, đi tiêu ra
các thức tích trệ như ruột cá được mấy chén. Điều dưỡng hơn 10 ngày thì khỏi
hẳn”.
Y Án Lỵ
Do Khí Huyết Hư Nhược
(Trích trong
“Ôn Dịch Luận”)
“Trương Côn
Nguyên 60 tuổi, bị chứng lỵ, 1 ngày đi 3-4 lần, mót rặn cấp bách, mạch thường
ngưng nghỉ gián đoạn. Các thầy thuốc đều cho là mạch Tước Trác, chắc là phải
chết, vì vậy không dám dùng thuốc. Mời tôi đến chữa, xem mạch thì thấy so le
không đều hoặc đập 2 lần lại ngưng một lần, hoặc 3 lần ngưng một lần rồi lại
tiếp. Đây là mạch Sáp. Người Bệnh tuổi đã cao, khí huyết hư nhược mà lại đi lỵ
ra mủ, máu, 6 mạch đoản, sáp thì rất đáng sợ. May mà ăn uống vẫn chưa giảm, hình
sắc không thay đổi, thanh âm còn vượng, nói năng như thường, vì vậy cũng chưa
phải là chứng nguy. Dùng bài Thược Dược Thang (Bạch thược, Binh lang, Đại Hoàng,
Đương Quy, Hoàng Cầm, Hoàng Liên, Mộc hương, Nhục Quế, Cam thảo) tăng Đại hoàng
lên 12g. Uống xong đại tiện toàn ra mủ. Uống 2 thang người Bệnh thấy khoan
khoái dễ chịu, mạch khí đã nối tiếp lại, lỵ cũng ngừng”.
Y Án Lỵ Trực
Trùng
(Trích trong
Châm Cứu Lâm Chứng Thực nghiệm’ của Tôn Học Quyền).
Vương, nữ, 48
tuổi, công nhân. Nhập điều trị ngoại trú ngày 08/10/1968.
Bệnh nhân có
các triệu chứng và dấu hiệu điển hình của lỵ trực trùng và trực khuẩn lỵ được
tìm thấy trong cấy phân cho nên dễ chẩn đoán.
Cứu huyệt Thần
khuyết 60 phút. Cứu ba lần bệnh nhân khỏi hoàn toàn.
|