|
| |
HUYẾT ÁP CAO
Áp
Huyết Cao - Hypertension - High Blood Pressure.
A-
Đại Cương
- Huyết áp
cao là danh từ để chỉ trạng thái tăng áp lực của máu trong động mạch.
- Danh từ này
do YHHĐ đặt ra căn cứ trên phát hiện của áp huyết kế (máy đo huyết áp).
- YHCT trước
đây không có danh từ huyết áp cao nhưng có những tên gọi như Huyễn Vựng (Vậng),
Can Dương Vượng... mà nội dung rất gần với các chứng trạng của bệnh Huyết áp
cao.
- Huyết áp
cao là bệnh có tỉ lệ mắc bệnh cao:
+
Châu Âu và Bắc Mỹ: 15 - 20 %.
+ Việt Nam: 6 - 12 %
(
Theo thống kê của sách ‘ Bách Khoa Thư Bệnh Học 1990).
- Bệnh biến
đổi thường xuyên:
+
Thay đổi trong ngày: (ban đêm ít (thấp) hơn ban ngày).
+
Theo tuổi: lớn tuổi bị nhiều hơn trẻ tuổi.
+
Theo giới: nam bị nhiều hơn nữ.
- Muốn biết
rõ chính xác huyết áp cao cần phải dùng máy đo huyết áp (huyết áp kế).
- Khi đo
huyết áp ta sẽ ghi nhận được 2 trị số:
+
Trị số HA tối đa (còn gọi là HA Tâm Thu): tượng trưng cho áp lực máu trong
động mạch lúc tim co bóp.
+
Trị số HA tối thiểu (còn gọi là HA Tâm Trương): tượng trưng cho áp lực máu
trong động mạch lúc tim dãn ra. Số tối thiểu này còn cho ta biết rõ về sức kháng
của các động mạch nhỏ trong cơ thể.
Theo tổ chức Y Tế thế giới (OMS - WHO), một người được coi là huyết áp cao
khi HA tối đa lớn hơn 140mmHg và HA tối thiểu lớn hơn 90mmhg. HA trung bình
là 120/80 mmHg (theo OMS) và 110/70 (theo Viện Thống Kê Sinh Học Việt Nam
).
Tuy
nghiên cũng cần lưu ý là đối với người lớn tuổi HA bình thường hơi tăng 1 ít do
sức đàn hồi của mạch máu bị giảm. Một người bình thường trên 50 tuổi HA
160/90mmHg được coi là bình thường.
Ngoài ra, còn có loại HA cao sinh lý:
+ Buổi sáng
HA hơi hạ, khi ăn no, có xúc cảm, sau buổi lao động, sau khi suy nghĩ căng
thẳng...HA có hơi tăng một ít.
+ Phụ nữ có thai hoặc đang có kinh nguyệt, HA cũng hơi tăng.
B- Bệnh Danh
-
YHHĐ trước đây gọi chung là HA cao, gần đây, dựa trên sinh lý học, các nhà
nghiên cứu đè xuất nên gọi là HA tăng hoặc tăng HA.
-
YHCT trước đây không có tên gọi là HA cao nhưng hiện nay giới YHCT cũng đã quen
dần với tên gọi: HA cao, HA tăng.
C- Phân Loại
1- Theo YHHĐ.
Có
nhiều cách phân loại khác nhau:
a-
Dựa vào 2 trị số Tối Thiểu và Tối Đa, người ta chia ra làm 2 loại sau:
+ HA Cao Thể
TÂM THU: khi chỉ có HA tối đa tăng cao, HA tối thiểu vẫn ở trong giới hạn bình
thường. Thí dụ: 170/80mmHg, 195/80mmHg...
+ HA Cao Thể
TÂM TRƯƠNG: khi cả 2 trị số HA tối đa và tối thiểu tăng cao hơn bình thường.
Thí dụ: 180/95mmHg, 195/100mmHg...
Dựa
vào sự tăng của HA tối thiểu, các nhà nghiên cứu có thể xếp loại mức độ nặng nhẹ
trong bệnh HA tăng như sau:
* HA cao nhẹ
(giai đoạn 1): HA tối thiểu 90 - 104mmHg
* HA cao
trung bình (giai đoạn 2): HA tối thiểu 105 - 114mmHg
* HA cao
nặng,trầm trọng (giai đoạn 3): HA tối thiểu 115mmHg.
Viện Dinh Dưỡng Việt Nam dựa trên cơ sở mức phân loại của Uỷ Ban Liên Kết Quốc
Gia Về Tăng Huyết Áp Của Hoa Kỳ (1993) phân độ nặng của huyết áp cao thành 4
giai đoạn:
|
Bảng
Phân Loại Độ Nặng Tăng Huyết Áp |
|
Giai đoạn |
Huyết Áp
Tâm Thu (mmHg) |
Huyết Áp
Tâm Trương (mmHg) |
|
1
2
3
4 |
140 ~ 159
160 ~ 179
180 ~209
±
210 |
90 ~99
100 ~ 109
110 ~ 119
±
120 |
b- Một số tác
giả dựa vào tính chất nặng nhẹ, lành tính, ác tính mà chia ra như sau:
+ HA cao
thường xuyên, có thể là lành tính và ác tính.
+ HA cao
theo cơn: dựa trên cơ sở bình thường hoặc gần bình thường, có những cơn cao
vọt.
+ HA dao
động: trị số HA có lúc tăng lúc không.
c-
Dựa vào nguyên nhân gây bệnh 1 số tác giả lại chia ra:
+ HA cao thứ
phát: thường gặp ở người trẻ và trẻ em.
+ HA cao
nguyên phát: thường gặp nơi người cao
tuổi.
2- Theo YHCT.
YHCT chưa thống nhất về cách phân loại bệnh HA cao.
+ Nguyễn Như
Lệ (VNam) trong ‘Tạp Chí Đông Y ‘ số 11\1967 phân loại HA cao theo Tạng: HA cao
thể Can, Tâm, Thận, Tỳ...
+ Thịnh Quốc
Vinh (T.Quốc) phân loại theo Aâm Dương và Tạng.
+ Vương Kiến
Dân (T.Quốc) phân loại theo Hàn - Nhiệt, Hư - Thực và Khí - Huyết.
+ Sở Nghiên
Cứu Nội Khoa Viện Nghiên Cứu Trung Y (T.Quốc) phân loại theo Âm Dương, Tạng,
Hàn Nhiệt và tên bệnh.
+ Sở Nghiên
Cứu HA Cao của Trung Y Học Viện Thượng Hải phân loại theo Aâm Dương.
Trong các cách phân loại trên mỗi cách đều có ưu khuyết điểm riêng, tuy nhiên để
cho phù hợp với quan điểm của YHCT, các nhà nghiên cứu đề nghị dùng cách phân
loại theo Âm Dương của Viện Trung Y Thượng Hải.
Theo cách phân loại này, ta có 5 loại sau:
* Dương
Thịnh: Can dương thượng cang, Can nhiệt thượng xung.
* Dương
Hư: Thận dương hư, Dương khí trong ngực hư.
* Âm Hư
Dương Thịnh: Âm hư Can vượng, Thận suy Can vượng.
* Âm Hư
: Can Thận lưỡng hư, Tâm huyết hư.
* Âm Dương
đều hư.
So
sánh với YHHĐ, Sở Nghiên Cứu Nội Khoa của Viện Nghiên Cứu Trung Y nhận xét như
sau:
+ Thể Dương
Thịnh: tương đương thời kỳ 1 giai đoạn 1 và thời kỳ 2
(giai đoạn HA cao chưa có xơ cứng động
mạch).
+ Thể Âm Hư
Dương Hư: Tương đương với thời kỳ I (giai đoạn có xơ cứng
động
mạch và triệu chứng về tim, thận, não...)
+ Thể Âm Dương
Đều Hư: tương đương với giai đoạn II thời kỳ III là lúc đã
mất sức lao
động.
+ Thể Âm Hư
Dương Thịnh: là thời kỳ chuyển tiếp giữa giai đoạn II và III.
D- Nguyên Nhân
a- Theo YHHĐ.
Theo TCYTế thế giới thì 1 số ít trường hợp HA cao đã có nguyên nhân được biết
rõ nhưng phần lớn (trên 90% số trường hợp) cho đến nay người ta vẫn chưa xác
định rõ được nguyên nhân. Đối với những trường hợp này y học gọi là HA vô căn (
HA không rõ nguyên nhân).
Theo TCYTế thế giới, một số nguyên nhân gây ra HA cao là:
1+ Yếu Tố
Thần Kinh, Tâm Lý Xã Hội.
.
Trong thời kỳ chiến tranh, HA cao nhiều hơn.
.
Trạng thái căng thẳng thần kinh, không thoải mái, môi trường xã hội không thuận
lợi: ở thành phố ồn ào, nhiều kích động hơn nông thôn...HA cũng cao hơn.
2+ Do Tăng
Các Chất Nội Tiết.
Khi
bị sợ hãi nhiều,cơ thể tiết ra chất Adrenalin và Noradrenalin làm mạch máu co
lại gây ra HA cao.
3+ Yếu Tố
Dinh Dưỡng
.
Chế độ ăn uống hàng ngày có thể ảnh hưởng đến HA: ăn thừa năng lượng (calori)
dẫn đến thừa cân nặng ở cơ thể, thừa mỡ cũng gây nên bệnh HA cao và bệnh nhiễm
mỡ xơ mạch. Giữa 2 bệnh này có sự thúc đẩy qua lại: sự phát triển của bệnh này
làm bệnh kia tiến triển hơn.
-
Ăn thừa muối (Nacl) có ảnh hưởng đến việc tăng HA.
4+ Yếu Tố Di
Truyền.
Có
gia đình cả nhà hoặc cả họ đều bị HA cao.
Ngoài ra, tổ chức y tế thế giới cũng lưu ý đến 3 nhóm nguyên nhân chính thường
gặp:
1+ HA cao do
dùng thuốc.
.
Thuốc ngừa thai loại Hormon tổng hợp.
.
Cam thảo và Carbenoxolone.
.
ACTH và Corticoide.
2+ HA cao
trong thai nghén.
Với
3 dấu hiệu kinh điển: HA cao + Protein Niệu + Phù.
3+ HA cao do
1 số bệnh thực thể.
.
Hẹp động mạch chủ (tật bẩm sinh).
.
Các bệnh của Thận (cầu thận, bể thận viêm...)
.
Các bệnh của vỏ thượng thận: hội chứng Cushing, U thượng thận gây ra tăng
Aldosteron...
.
Các bệnh của thượng thận: u pheochromocytome...
Một số tác
giả hiện nay phân loại nguyên nhân gây HA cao thành 2 nhóm chính, dựa theo trị
số của HA tâm thu và HA tâm trương.
HA CAO TÂM
THU HA CAO TÂM TRƯƠNG
Tăng năng tuyến
giáp Tăng áp lực nội sọ và 1 số bệnh của hệ
TK trung ương
Động mạch chủ
xơ cứng Hẹp động mạch chủ
Bệnh tăng hoạt động của thượng thận
Thông rò tĩnh
mạch Bệnh của thận và động mạch thận
Sốt
HA cao không rõ nguyên nhân.
b- Theo YHCT.
Theo Sở Nghiên Cứu Nội Khoa Viện Nghiên Cứu Trung Y Thượng Hải:
-
Nguyên nhân chủ yếu của HA cao là Thất Tình (7 loại tình chí của YHCT: vui,
buồn, giận...).
-
Từ nguyên nhân thất tình dẫn đến 1 số yếu tố gây bệnh khác mà YHCT thường hay
đề cập đến là Phong, Hỏa, Đờm, Hư.
Cụ
thể là:
+ Lo buồn suy
nghĩ, tinh thần căng thẳng đều có thể làm cho khí bị mất. Khí mất lâu sẽ hóa
hỏa. Giận dữ (nộ) làm hại Can (Nội Kinh:”Nộ thương Can”), Can hỏa vượng lên
gây ra nội phong.
+ Lo
buồn,suy nghĩ làm hại Tỳ (Nội Kinh: “ Tư thương Tỳ”), Tỳ hư khí suy không chế
ngự được Thận sẽ sinh ra đờm thấp. Đờm thấp có thể sinh ra nhiệt và nhiệt có thể
sinh ra nội phong.
+ Tỳ hư ảnh
hưởng đến việc dinh dưỡng kém sút, làm cho tinh hậu thiên của các tạng suy kém
gây ra Hư, nhất là đối với Thận âm.
+ Thận âm hư
làm cho Can huyết hư không nuôi dưỡng được Can, nhẹ thì gây ra chứng Âm hư Can
vượng, nặng thì sinh ra Can mộc nội phong.
Các
yếu tố này tuy bao gồm Phong, Hỏa, Đờm, Hư nhưng chủ yếu là do Nội Phong và Hỏa
vượng.
So
sánh với các yếu tố gây bệnh của YHHĐ và YHCT có thể nhận thấy:
+ Về nhận
thức: YHHĐ và YHCT đều cho rằng hoạt động tinh thần là nguyên nhân gây bệnh.
+ Về các yếu
tố gây bệnh:
*
Phong Hỏa, cụ thể là Can Hỏa, Can phong rất gần với hội chứng Stress, tinh thần
căng thẳng...
*
Đờm tương ứng với chứng Cholesterol máu cao.
*
Hư ở đây có thể hiểu là hiện tượng thoái hóa của cơ thể, động mạch xơ cứng...
E- Cơ Chế Sinh Bệnh
a- Theo YHHĐ.
Theo các tác giả Liên Xô, có 3 cơ quan góp phần vào cơ chế sinh ra HA cao:
1-
Rối Loạn Thần Kinh Thể Dịch: được nêu ra từ năm 1942, theo đó, trong vỏ bán cầu
đại não thường xuyên có kích thích, ở đó phát xung động xuống trung tâm điều hòa
vận mạch làm mạch máu co lại và khi mạch máu bị co thắt sẽ làm HA tăng lên. Khi
HA tăng lên lại gây rối loạn huyết, gây ra thiếu máu ở một số cơ quan, nhất là
não, rồi lại trở lại vòng lẩn quẩn giữa não và mạch máu.
2-
Tuyến Yên: chủ yếu là tiền yên nơi sản xuất ra ACTH, tiền yên kích thích thượng
thận sản xuất ra Corticoid, muối và nước bị ứ lại, mạch máu bị co lại làm cho HA
tăng lên.
3-
Thận: chủ yếu là nhu mô Thận có men Prostaglandine có tác dụng kềm hãm Rénin do
ống lượn điều tiết ra. Nếu bị thiếu máu thì men Prostaglandin bị ức chế không
làm được nhiệm vụ kềm hãm Rénin, Rénin tăng trong máu làm cho HA tăng lên.
b- Theo YHCT.
Theo YHCT, cơ chế sinh bệnh HA cao chủ yếu dựa vào thuyết ‘Thượng Thực Hạ Hư’.
-
Thượng Thực nghĩa là Can hỏa bốc lên trên, Can dương cũng bùng lên hợp với
phong đờm làm rối loạn ở phần trên (thượng). Can dương bốc lên làm cho khí
huyết bị kéo lên theo gây ra đầu váng, mắt hoa, đầu nặng, chân nhẹ, đầu đau, mắt
đỏ, mặt đỏ, ngực bứt rứt...
-
Hạ Hư nghĩa là Thận Thủy không đủ, không nuôi được Can Mộc. Can âm kém không
chế ngự được Can dương làm cho Can dương bốc lên. Mộc sinh hỏa, Can dương vượng
tức là hỏa vượng, hỏa vượng quá sinh phong gây ra rối loạn ở phần trên (thượng
).
-
Âm hư sinh nội nhiệt, hư hỏa cũng bốc lên hợp với nội phong gây ra các chứng
chân nhẹ đầu nặng, lưng đau mỏi, đầu đau, tim đập nhanh, ngực bứt rứt...
-
Bệnh chủ yếu ở tạng Can nhất là Can hỏa, Can dương nhưng tạng Thận và Tâm cũng
giữ vai trò quan trọng, vì vậy, trong các triệu chứng của bệnh HA cao có triệu
chứng của:
+
Can: đầu đau, mắt hoa...
+
Tâm: tim đập nhanh, bồn chồn không yên...
+
Thận: lưng đau, tai ù...
So
sánh với cơ chế sinh bệnh của YHHĐ, có thể thấy rõ là YHHĐ và YHCT đều có 1
quan điểm thống nhất là quan hệ giưã trên và dưới:
*
Quan hệ trên dưới của YHHĐ là quan hệ giưã vỏ não và nội tạng. Công năng của vỏ
não bị rối loạn gây ra trương lực mạch máu tăng, động mạch xơ cứng, thận bị
thiếu máu (nội tạng - bên dưới). Nội tạng bên dưới lại tác động ngược lại làm
cho công năng của vỏ não bị rối loạn... và cứ trong vòng lẩn quẩn đó bệnh tiếp
tục phát triển làm tổn thương đến các cơ quan: tim, thận, não...
*
Quan hệ trên dưới của YHCT dựa vào Thượng Thực Hạ Hư. Thượng Thực ở đây là Can
dương, Can hỏa bốc lên trên. Hạ hư ở đây là Thận thủy ở dưới bị suy kém. Can hỏa
càng thịnh càng làm hao tổn Thận thủy ở dưới. Thận thủy càng suy kém càng không
nuôi dưỡng được Can mộc làm cho Can mộc vượng lên và cứ như vậy bệnh tiếp tục
phát triển làm tổn thương đến các tạng Can, Thận, Tâm.
Giữa 2 quan điểm trên có thể nhận thấy:
YHCT YHHĐ
. Can dương hỏa
bốc lên. Vỏ não bị rối loạn
. Hỏa vượng bốc
lên trên. Rối loạn do căng thẳng gây nên
. Thận thủy
suy. Trương lực mạch máu tăng cao, động mạch nhỏ
bị xơ
cứng, thận thiếu máu.
(Vì Thận thủy
thuộc âm, âm là vật thể (hữu hình) tương đương với mạch máu, thận... Còn suy
kém ở đây tương đương với việc trương lực cao, xơ cứng của động mạch và thiếu
máu của Thận².
F- Triệu Chứng Lâm Sàng
a- Theo YHHĐ
Tổ
chức YTT.Giới phân bệnh HA cao làm 3 giai đoạn:
+
Giai Đoạn I: người bệnh ở trạng thái dễ bị kích thích, thường hay kêu đầu đau,
đau về buổi sáng và sau khi làm việc căng thẳng, đau từng cơn, cơn ngắn vài giờ
hoặc cả ngày, có thể có cơn đau vùng tim (30%), có triệu chứng này chứng tỏ
có dấu hiệu co thắt của động mạch vành. Người bệnh mệt mỏi, hồi hộp mặt đỏ hoặc
tái do co thắt mạch máu (HA tăng lên có người mặt đỏ có người mặt tái không
nhất định). Sờ mạch tay quay thấy đập căng, mỏm tim đập mạnh, có tiếng thổi Tâm
thu cơ năng, HA dao động, trường hợp này nên làm các nghiệm pháp xem HA có cao
không:
1- Nghiệm pháp
ngừng thở: gây hiện tượng thiếu oxy, gây co mạch, HA sẽ cao (ngưng chừng một
phút sẽ đo).
2-
Ngâm chân vào nước lạnh 40C chừng 2 - 3 phút, gặp lạnh mạch máu sẽ co lại, HA
sẽ tăng lên (nếu đúng thì HA sẽ cao lên).
*
Giai Đoạn 2: HA cao thường xuyên có cơn cao kịch phát, đầu đau dữ dội, thở khó,
phù phổi cấp do thất trái suy cấp. HA tối đa có khi lên đến 220/100mmHg, có thể
bị xuất huyết não, hôn mê.
.
Dấu hiệu rối loạn tuần hoàn não: chóng mặt, tai ù, muốn ói, đầu nhức dữ dội, có
khi phát âm không rõ, có khi có hơi thoáng liệt, có khi ngất lịm...
.
Đối với võng mạc: thị lự c giảm, có dấu hiệu ruồi bay hoặc sương mù, soi đáy
mắt thấy mao mạch ngoằn ngoèo, phù nề hoặc xuất huyết.
.
Đối với tim: có tiếng thổi tâm thu, nghe được tiếng thứ 2 do động mạch xơ cứng.
Có cơn đau thắt ngực, loạn dưỡng cơ tim, nhồi máu cơ tim.
.
Đối với thận: bị thiếu máu nhẹ ở thận gây rối loạn chức năng thận,nước tiểu có
hồng cầu hình trụ.
+Giai Đoạn 3: Triệu chứng lâm sàng giống giai đoạn II nhưng nặng hơn. HA cao cố
định, nếu tụt xuống là nguy vì đã suy tuần hoàn nặng rồi.
Người bệnh thấy
đầu đau, mất ngủ, trí nhớ giảm, mất khả năng lao động.
Cơn đau thắt
tim tăng lên nhiều, suy tim độ 3,4, đe dọa nhồ máu cơ tim, xuất hiện phù nề, gan
to, cổ trướng, tổn thương tuần hoàn não, muốn ói, co giật, bán hôn mê, xuất
huyết não, không có đe dọa phù phổi cấp vì tuần hoàn đã giảm nhiều rồi.
.
Mắt: tổn thương mắt nặng, có thể bị mù.
.
Thận: tổn thương + thận viêm rõ, u rê huyết cao. Ở giai đoạn này (III) xuất
huyết não và lượng đàm trong máu cao, người bệnh thường chết do nhồi máu cơ
tim.
b-
Triệu Chứng Lâm Sàng Của HA Cao Theo YHCT
Sách ‘Nội Khoa Học’ của Trung Y Thượng Hải và Thành Đô đều nêu ra 4 thể loại HA
cao như sau:
1-
Huyết Áp Cao Thể CAN DƯƠNG THƯỢNG CAN
a - Chứng:
Chóng mặt, đầu đau mỗi khi căng thẳng, khi tức giận thì đau tăng, ngủ ít, hay
mơ, dễ tức giận, miệng đắng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền.
b- Biện
Chứng:
+
Chóng mặt, tai ù, đầu đau do Can dương bốc lên.
+
Mặt đỏ, dễ tức giận, ngủ ít, hay mơ, miệng đắng, lưỡi đỏ là biểu hiện của dương
vượng.
+
Mạch Huyền là biểu tượng của Can.
c- Nguyên
Nhân: Giận dữ làm hại Can, Can uất hóa hỏa, Can âm bị tổn thương, hao tổn, làm
cho Can dương bùng lên gây ra bệnh.
d- ĐiềuTrị:
.
Bình Can, tiềm dương, thanh hỏa, tức phong (T. Hải).
.
Bình Can, tiềm dương, tư dưỡng Can Thận. (T. Đô).
+
Sách ‘Nội Khoa Học’ T. Hải và T. Đô cùng dùng bài: Thiên Ma Câu Đằng Ẩm (Tạp
Bệnh Chứng Trị Tân Nghĩa): Thiên ma 8g, Tang ký sinh 16g, Ngưu tất 12g, Chi tử
8g, Dạ giao đằng 16g, Đỗ trọng 16g, Câu đằng 12g, Ích mẫu 16g, Hoàng cầm 12g,
Phục linh 12g, Thạch quyết minh 20g. Sắc uống.
(Thiên ma,
Câu đằng, Thạch quyết minh để bình Can, tiềm dương ; Hoàng cầm, Chi tử để thanh
Can hỏa; Tang ký sinh để bổ Can, Thận; Dạ giao đằng, Phục linh để dưỡng tâm
an thần).
+
Sách ‘Thiên Gia Diệu Phương’ giới thiệu 3 bài thuốc sau:
Giáng Áp
Hợp Teà (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Huyền sâm 16g, Hạ khô thảo 16g,
Táo nhân (sao) 10g, Địa long 10g, Dạ giao đằng 16g, Câu đằng (cho vào sau) 16g.
Sắc uống.
Trấn Can Tức Phong Thang Gia Giảm (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Bạch thược
40g, Nhân trần 24g, Mẫu lệ (sống) 40g, Huyền sâm 24g, Ngưu tất 40, Hoa hòe (
sống) 40g, Thiên môn 24g, Sinh địa 40g, Đại giả thạch 40g, Đan sâm 40g, Sung úy
tử 24g, Dạ giao đằng 40g, Sắc uống.
Ích
Âm Tiềm Dương Thang Gia Vị (Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng): Huyền sâm 12g, Cúc
hoa 10g, Đại giả thạch 16g, Mạch môn 10g, Câu đằng 10g, Mẫu lệ (sống) 16g, Ngưu
tất 10g, Phục linh 10g, Long cốt (sống) 16g, Thuyền thoái 6g, Viễn chí 6g.
Sắc uống.
Tam Long
Thang (Viện Nghiên Cứu Trung Y Trung Quốc): Long cốt (nấu trước) 30g, Long
đởm thảo 10g, Tang chi 16g, Mẫu lệ (nấu trước) 16g, Linh từ thạch 30g, Tang
diệp 10g, Địa long (khô) 16g. Sắc uống.
Thanh Huyễn Giáng Áp Thang (Y Viện Thiên Tân): Trúc nhự 10g, Long đởm thảo
10g, Xương bồ 10g, Phục linh 16g, Tang ký sinh 10g, Long cốt 12g, Thiên ma 10g,
Hạ khô thảo 10g, Mẫu lệ 16g, Hoàng cầm 10g, Xuyên khung 6g, Chi tử 10g. Sắc
uống.
Hạ Ký Cầm
Thược Thang (Trung Y Viện Thường Xuân): Hạ khô thảo 30g, Hoàng cầm 16g,
Mẫu lệ 50g, Tang ký sinh 20g, Bạch thược 24g, Câu đằng 16g, Ngưu tất 36g. Sắc
uống.
Thanh
Giáng Thang (Y Viện Giang Tô): Tang bạch bì 30g, Địa cốt bì 30g. Sắc uống.
Linh
Dương Giác Thang (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Linh dương giác 4g,
Quy
bản 32g, Đơn bì 6g, Hạ khô thảo 6g, Sinh địa 24g, Sài hồ 4g, Thạch quyết minh
32g, Bạch thược 8g, Bạc hà 4g, Thuyền thoái 4g, Cúc hoa 8g, Táo 10 trái. Sắc
uống.
Linh Giác Câu Đằng Thang (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Linh giác phiến
4g, Sinh địa 20g, Cúc hoa 12g, Tang diệp 8g, Câu đằng 12g, Bạch thược 12g, Bối
mẫu 8g, Phục thần 12g, Trúc nhự 20g, Cam thảo 2,8g. Sắc uống.
Trấn Tĩnh
Khí Phù Pháp (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Thanh long xỉ 6g, Đại
giả thạch 6g, Bá tử nhân 12g, Mẫu lệ (sống) 24g, Ích trí nhân 12g, Phục thần
12g, Tuyền phúc hoa 12g. Sắc uống.
Tiềm Dương Tư Giáng Pháp (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Quy bản (nướng
) 18g, Nữ trinh tử 16g, Thục địa12g, Linh từ thạch 4g, Thuyền thoái 4g, Sinh địa
12g, Hắc đậu y 12g, Cúc hoa 12g, A giao 8g. Sắc uống.
Trị Can Phong Thượng Thoán
Phương (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Sinh địa 24g, Câu đằng
12g, Bạch tật lê 12g, Bạch thược 12g, Cúc hoa 12g, Thiên ma 12g, Đơn bì 4g, Quất
hồng 4g. Sắc uống.
Trị Nội
Phong Thần Bất Mỵ An Phương (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Đan sâm
12g, Táo nhân 16g, Sinh địa 20g, Huyền sâm12g, Viễn chí 6g, Thiên môn 8g, Phục
thần 16g, Xương bồ 32g, Mạch môn 8g, Cát cánh 4g, Chu sa 1,6g. Sắc uống.
Tiêu Dao
Hạ Áp Thang (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học): Đơn bì, Chi tử, Hoàng cầm, Cúc
hoa, Sài hồ, Bạch linh, Câu đằng, Hạ khô thảo, Đương quy, Bạc hà. Sắc uống.
2- Huyết Áp Cao
Thể ĐỜM TRỌC TRUNG TRỞ
a-
Chứng: Đầu choáng váng và nặng nề, hông bụng buồn đầy, muốn ói, ăn ít, ngủ li
bì, lưỡi trắng, mạch Nhu Hoạt (T.Hải), Huyền Hoạt(T.Đô)
b-
Biện Chứng:
. Đầu choáng,
nặng nề: do đờm trọc ngăn trở thanh khí không đưa được lên đầu.
. Bụng đầy,
muốn ói, ăn ít, ngủ li bì: do đờm trọc ngăn trở trung tiêu gây ra.
. Mạch Nhu biểu
hiện của Thấp, mạch Hoạt biểu hiện của Đờm.
c- Nguyên Nhân
: Do ăn nhiều các thức béo, bổ làm cho Tỳ Vị bị tổn thương khiến cho thanh dương
không hóa thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến cho thanh dương không
thăng lên được và trọc âm không giáng xuống được gây ra bệnh.
d- Điều Trị:
+ Táo thấp, tiêu đờm (T.Hải).
+ Táo thấp, bổ Tỳ, hóa đờm, khứ phong (T.Đô).
-
Sách ‘ Nội Khoa Học’ T.Hải và T.Đô đều dùng bài: Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma
Thang (Y Học Tâm Ngộ): Bán hạ (chế) 6g, Câu đằng 16g, Cam thảo 6g, Ý dĩ 16g,
Tang ký sinh 16g, Thiên ma 16g, Trần bì 6g, Bạch truật 12g, Ngưu tất 16g, Phục
linh 12g. Sắc uống.
(Bán hạ, Phục
linh, Trần bì, Cam
thảo để hóa thấp, trừ đờm; Bạch truật kiện Tỳ; Thiên ma trị chóng mặt (huyễn
vậng), Ngưu tất hạ áp; Tang ký sinh làm nhẹ đầu, hết chóng mặt).
Một Số Bài
Thuốc Tham Khảo
Tức
Phong Giáng Áp Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng): Toàn phúc hoa 16g, Ngưu
giác tai 20g, Ngô công 3 con, Trân châu mẫu 24g, Thiên ma 16g, Toàn yết 6g,
Thạch quyết minh 40g, Câu đằng 16g, Ngưu tất 16g, Đại giả thạch 30g, Qua lâu
16g, Đởm tinh 10g. Sắc uống.
Bát
Vị Giáng Áp Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng): Câu đằng (song) 16g, Mã
đâu linh 30g, Ngưu tất 16g, Thích tật lê 16g, Hạ khô thảo 30g, Đan sâm 30g, Đại
giả thạch 30g, Đơn bì (phấn) 16g. Sắc uống.
Hoàng
Tinh Tứ Thảo Thang (Y Viện Bắc Kinh): Hoàng tinh 20g, Ích mẫu thảo16g, Hy thiêm
thảo 16g, Hạ khô thảo 16g, Xa tiền thảo 16g. Sắc uống.
*
Phương Thuốc Đơn Giản
+ Theo Nội
Khoa Học Thành Đô:
- Trạch tả
30g, Bạch truật 12g. Sắc uống.
- Trần bì 6g,
Bán hạ 10g. Sắc uống.
- Phục linh
10g, Sinh khương 10g. Sắc uống.
3- Huyết Áp Cao Thể THẬN TINH BẤT TÚC
a-
Chứng: Chóng mặt, mệt mỏi, hay quên, lưng gối đau yếu, tai ù, mất ngủ, di tinh,
chân tay lạnh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm,Tế. (Dương hư).
.
Nếu thiên về âm hư: lòng bàn tay, chân và ngực nóng + bứt rứt (ngũ tâm phiền
nhiệt), lưỡi đỏ, mạch Huyền, Tế (T.Hải) hoặc Huyền Tế Sác (T.Đô).
b-
Biện Chứng:
+ Thận tàng
tinh, sinh tủy, Thận hư yếu gây ra di tinh, Thận hư tủy không thông được lên não
gây ra chóng mặt, hay quên.
+ Lưng đau:
dấu hiệu Thận hư (Nội Kinh: Lưng là phủ của Thận).
+ Thận chủ
xương, Thận hư làm cho xương đau.
+ Thận khai
khiếu ra tai, Thận hư sinh ra tai ù.
+ Chân tay
lạnh: dấu hiệu thiên về dương hư.(dương hư sinh ngoại hàn).
+ Mạch
Trầm,Tế: Thận dương hư.
+ Lòng bàn
tay, chân và ngực nóng, lưỡi đỏ, mạch Tế, Sác là dấu hiệu thiên về âm hư (âm hư
sinh nội nhiệt).
c-
Nguyên Nhân: Do tiên thiên suy yếu hoặc lao lực khó nhọc làm cho Thận tinh
khô, Thận suy không sinh được tủy, tủy không thông được lên não gây ra bệnh.
d-
Điều Trị:
+ Thiên về
dương hư: bổ Thận, trợ dương, dùng bài Hữu Quy Hoàn.
+ Thiên về
âm hư: bổ Thận, ích âm, dùng bài Tả Quy Hoàn.
Hữu Quy
Hoàn (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Thục địa 320g, Phụ tử (chế) 80g, Nhục quế 80g, Sơn
thù 120g, Câu kỷ tử 160g, Sơn dược 160g, Lộc giác giao 160g, Thỏ ty tử 180g, Đỗ
trọng 160g, Đương quy 120g. Tán bột, làm hoàn, ngày uống 8 - 12g, với nước muối
nhạt.
(Thục địa tư
âm, bổ thận, thêm tinh, ích tủy, sinh huyết ; Sơn thù bổ Can Thận, thu sáp tinh
khí ; Sơn dược kiện Tỳ ; Câu kỷ tư,û Thỏ ty tử, Đỗ trọng để ôn dương cho Can
Thận; Đương quy, Lộc giác giao bổ sung tinh huyết ; Nhục quế, Phụ tử để bổ Thận
dương (theo ý: ‘Khéo bổ dương tất phải trọng cầu âm’).
Tả
Quy Hoàn (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Thục địa 320g, Quy bản (cao) 160g, Sơn dược
160g, Sơn thù 160g, Lộc giác giao 160g, Ngưu tất 120g, Câu kỷ tử 160g, Thỏ ty tử
160g. Tán bột, làm hoàn, ngày uống 8 - 12g, với nước muối loãng.
(Thục địa tư
âm, bổ Thận, thêm tinh, sinh huyết ; Sơn thù bổ Can, Thận, thu sáp tinh khí; Sơn
dược kiện Tỳ ; Câu kỷ tử, Thỏ ty tử bổ ích Can, Thận ; Quy bản, Lộc giác giao bổ
tinh huyết, Ngưu tất cường tráng gân cốt, dẫn hỏa xuống).
Một Số Bài
Thuốc Tham Khảo
Thất Tử Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng): Quyết minh tử 24g, Kim anh
tử 16g, Câu kỷ tử 12g, Tang thầm tử 12g, Nữ trinh tử 16g, Sa uyển tử 12g, Thỏ ty
tử 12g. Sắc uống.
Liên Thầm Thang (Thiên Gia Diệu Phương, q. Thượng): Nữ trinh tử 12g, Hạn liên
thảo 24g, Địa long 10g, Quy bản 24g, Mẫu lệ (sống) 24g, Hoài sơn 16g, Liên tu
12g, Tang thầm tử 12g, Câu đằng 10g, Ngưu tất 16g. Sắc uống.
Dưỡng Huyết Giáng Áp Thang (Y Viện Tứ Xuyên): Mẫu lệ (sống) 30g, Bạch thược
24g, Hoàng cầm 12g, Trân châu mẫu 30g, Địa phu tử 20g, Phòng kỷ12g, Tang thầm tử
30g, Tật lê 16g, Cúc hoa 12g. Sắc uống.
Cầm
Trọng Giáng Áp Thang (Học Viện Trung Y TQ): Hoàng cầm 16g, Thạch quyết minh
10g, Phục thần 10g, Bá tử nhân 10g, Cam
cúc hoa 10g, Sinh địa 16g, Câu đằng 10g, Phục linh 10g, Ngưu tất 12g, Sơn thù
10g, Đơn bì 8g, Đỗ trọng 16g, Sắc uống.
Dưỡng Âm Hòa Dương Pháp (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Bá tử nhân 8g,
Phục thần 12g, Thiên môn 12g, Hắc chi ma 16g, Lỗ đậu y 12g, Sa sâm 12g, Hà thủ ô
20g. Sắc uống.
Tư
Thủy Bình Mộc Pháp (Tân Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương): Bạch tật lê 12g,
Thiên môn 8g, Sinh địa 16g, Bá tử nhân 8g, Hà thủ ô 16g, Ngưu tất 12g, Nữ trinh
tử 8g, Cúc hoa 12g, Hồ ma nhân 16g, Tang diệp 8g. Sắc uống.
*
Các Phương Thuốc Đơn Giản.
. Hắc chi ma
120g, Tang thầm tử 120g, Hồ đào nhục 120g. Nấu cho thật nhừ, thêm Mật ong vào,
quậy đều, chia làm 2 lần uống (Nội Khoa Học Thành Đô).
3B- Huyết Aùp Cao Thể CAN THẬN ÂM HƯ (Hiện Đại Nội Khoa
Trung Y Học)
Triệu chứng:
Hoa mắt, chóng mặt, tai ù, đau nóng trong đầu, mặt đỏ, ngực tức, bứt rứt hoặc
chân tay tê
dại, ngũ tâm phiền nhiệt, lưng đau, lưỡi thon đỏ, rêu mỏng, mạch Huyền, Tế, Sác.
Thường gặp
trong trường hợp thể chất vốn có sẵn âm hư hoặc bị huyết áp cao thời gian dâì,
dương thịnh làm tổn thương chân âm.
Biện chứng:
+ Thận tàng
tinh, sinh tủy, Thận hư tủy không thông được lên não gây ra chóng mặt, hay quên.
+ Lưng đau:
dấu hiệu Thận hư (Nội Kinh: Lưng là phủ của Thận).
+ Thận khai
khiếu ra tai, Thận hư sinh ra tai ù.
+ Lòng bàn
tay, chân và ngực nóng, lưỡi đỏ, mạch Tế, Sác là dấu hiệu thiên về âm hư (âm hư
sinh nội nhiệt).
Điều trị: Tư
âm, tiềm dương. Dùng bài Kỷ Cúc Địa Hoàng Thang gia vị (Hiện Đại Nội Khoa Trung
Y
Học): Câu kỷ tử, Dã cúc hoa, Hoài sơn, Bạch linh, Đơn bì, Trạch tả, Địa cốt bì,
Bạch mao căn đều 12g, Sinh địa, Hạ khô thảo đều 16g, Sơn thù, Câu đằng đều 10g,
Thạch quyết minh 20g. Sắc uống).
4-
Huyết Áp Cao Thể KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ (T.Hải)
TÂM TỲ LƯỠNG HƯ (T.Đô).
a-
Chứng: Chóng mặt, hoa mắt, sắc mặt nhạt, hồ hộp, mất ngủ, mệt mỏi, biếng ăn,
lưỡi nhạt, mạch Tế, Nhược.
b-
Biện Chứng:
+ Chóng mặt,
hoa mắt, sắc mặt nhạt, lưỡi nhạt là do khí huyết hư.
+ Hồi hộp,
mất ngủ do Tâm huyết suy.
+ Mệt mỏi,
biếng ăn do Tỳ khí suy.
+ Mạch Tế,
Nhược biểu hiện khí huyết suy.
c-
Nguyên Nhân: Do bệnh lâu ngày không khỏi, khí huyết bị tổn hao hoặc sau khi
mất máu, bệnh chưa hồi phục hoặc do Tỳ Vị hư yếu, không vận hóa được thức ăn để
sinh ra khí huyết dẫn đến khí huyết bị hư. Khí hư thì dương bị suy, huyết hư thì
não bị bệnh không nuôi dưỡng được, gây ra bệnh.
d-
Điều Trị: + Bổ Dưỡng Khí huyết, kiện vận Tỳ Vị.
+ Bổ ích Tâm Tỳ.
Cả 2 trường
phái trên đều dùng bài Quy Tỳ Thang (Tế Sinh phương): Đảng sâm 12g, Hoàng
kỳ 12g, Toan táo nhân 12g, Phục thần 12g, Quế chi 8g, Viễn chí 4g,
Chích thảo 2g, Bạch truật 12g, Đương quy 8g, Mộc hương 2g, Sinh
khương 4g, Táo 3 trái. Sắc uống.
Một Số Bài
Thuốc Tham Khảo
Nhân Sâm Dưỡng Vinh Thang (Tạp Chí Đông Y Việt Nam số 11/ 1967): Nhân sâm 8g,
Hoàng kỳ16g, Đương quy 16g, Bạch truật 12g, Bạch thược 12g, Ngũ vị tử 4g, Táo
nhân 12g, Viễn chí 4g, Mộc hương 4g, Thục địa 20g, Đan sâm 20g, Chích thảo 8g,
Nhãn nhục 12g, Trần bì 8g, Chi tử 4g, Sài hồ 8g, Phục linh 12g, Táo12g. Sắc
uống.
Khô
Thảo Sinh Địa Thang (Tạp Chí Đông Y Việt Nam số 11/ 1967): Hạ khô thảo 40g, Tang
diệp 20g, Thiên ma 12g, Sinh địa 12g, Đỗ trọng 12g, Cúc hoa 12g, Ngưu tất 12g.
Sắc uống.
Tiên
Quyết Giáng Áp Thang (Y Học Viện Tô Châu): Tang chi (tẩy rượu hoặc tẩm rượu
) 60g,
Đương quy 16g, Cương tằm (sao) 16g, Đan sâm 16g, Quế chi 8g, Câu đằng (song)
30g, Ngưu tất 16g. Sắc uống.
*
Phương Thuốc Đơn Giản.
+ Nội Khoa
Học Thành Đô:
.
Hoàng kỳ 30g, Đương quy 16g. Sắc uống.
.
Đảng sâm 16g, Hoàng kỳ 16g, Chích thảo 6g, Nhục quế 6g. Sắc uống.
* MỘT SỐ NGHIỆM
PHƯƠNG TRỊ HUYẾT ÁP CAO
+ Cao Huyết Aùp Nghiệm Phương: Khổ sâm 16g, Sung úy tử 16g, Ngũ vị tử 10g, Sơn
tra 16g,
Quyết minh tử 20g, Ngưu tất 16g, Hòe hoa 20g, Thiên trúc hoàng 16g, Từ thạch
16g. Sắc
uống (Y Viện Liêu Tử).
+
Huyết Bình Thang: Câu đằng 12g, Đỗ trọng 8g, Ngưu tất 6g, Đương quy 12g, Tang
ký sinh 8g, Hoàng cầm 8g, Chỉ thực 8g. Sắc uống (Cổ Phát Trai - Y Viện Hình Đài
).
+ Khô
Thảo Thang: Bạch thược 12g, Hạ khô thảo 20g, Đỗ trọng 20g, Hoàng cầm8g. Ba vị
trên sắc trước khoảng nửa giờ, cho thêm Hoàng cầm vào sắc tiếp khoảng 10 phút.
Ngày uống 2 lần (Thường Nhất Sơn, Sơn Hải Trung Quốc).
+ Định
Phong Bình Can Thang: Thiên ma 6g, Sung úy tử 20g, Hy thiêm thảo 20g, Quyết
minh tử 40g, Hoàng cầm 8g, Xuyên khung 4g. Sắc uống (Trung Y Thượng Hải).
-
Thông U Hạ Áp Cao: Bố chính sâm, Hoàng tinh, Ngưu tất, Thạch xương bồ, Hà thủ ô,
Nga truật, Thổ phục linh, Binh lang, Đào nhân, Kim ngân hoa, Hồng hoa, Cam thảo,
Mạn kinh tử, Tang chi, Sinh địa, Liên kiều, Tỳ giải, Trạch tả, Xích thược. Nấu
thành cao. Ngày uống 30 - 60ml (Trần Chưởng - Tạp Chí Đông Y (Việt Nam), 1967
: 11).
+ Dẫn
Hỏa Quy Nguyên Thang (Phương Bá Trà): Địa hoàng 16g, Sơn dược, Trạch tả, Phục
linh, Táo bì, Ngưu tất đều 10g, Đơn bì 19g, Quan quế 4g.Sắc uống
-TD: Ích Thận,
giáng hỏa, trị huyết áp cao thể Thận hư (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Hạ
Khô Thảo Thang Phức Phương: Hạ khô thảo, Cúc hoa đều 10g, Quyết minh tử, Câu
đằng đều 16g. Sắc uống.
-Ghi
Chú: Sau 1 tuần, chỉ dùng Quyết minh tử 30g, sắc, chia làm 2 lần uống trong
ngày (Lưu Kỳ Hiệu - Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Ôn
Dương Ích Khí Thang: Phụ tử 4g, Phục linh 16g, Hán phòng kỷ12g, Nhục quế 6g,
Hoàng kỳ20g, Xích tiểu đậu 20g, Quế chi 6g, Ngưu tất 20g, Bạch truật
12g. Sắc uống.
- TD: Ôn dương,
ích khí, kiện Tỳ, thấm thấp, hoạt huyết, thông lạc (Sài Bái Nguyên - Hiện Đại
Nội Khoa Trung Y Học).
+ Tam
Thảo Thang: Hạ khô thảo 12g, Long đởm thảo 6g, Ích mẫu thảo 10g, Bạch thược
10g, Cam thảo 6g. Sắc uống.
- TD: Thanh
nhiệt, bình Can, hạ áp (Lưu Độ Châu - Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Thất Diệu
Thang (Hà Thiệu Kỳ): Thạch quyết minh 30g, Kim ngân hoa 16g, Hạ khô thảo
12g, Thanh phòng phong 10g, Xích thược 10g, Tang chi 12g, Cam thảo 6g, Hoàng kỳ
(sống) 30g, Đương quy 10g. Sắc uống.
- TD: Khu phong,
thanh nhiệt, giáng áp. Trị huyết áp cao (Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Thất Vị Điều Đại
Thang: Bạch tật lê 16g, Hạnh nhân 16g, Huyền sâm16g, Xa tiền tử 16g, Binh lang
6g, Hổ phách 1g, Đan sâm 16g. Sắc uống.
-TD:
Khu phong, sơ Can, tư âm, giáng hỏa, hoạt huyết, an thần, giáng khí, lợi thấp.
-Ghi Chú: Thường phải uống 5 - 10 thang mới có hiệu quả, nhiều nhất là 15
thang (Trương Trung - Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Tiêu Dao Hạ Áp
Thang: Đơn bì, Hoàng cầm, Hạ khô thảo, Chi tử 16g, Phục linh 16g, Bạch thược
30g, Sài hồ 16g, Câu đằng 16g, Đương quy12g, Bạc hà 10g. Sắc uống.
-TD: Thanh Can,
giải uất, bình Can, hạ áp (Trương Trung - Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Tiên Linh Tỳ Hạ
Áp Thang: Dùng phần thân và lá Tiên linh tỳ (phần trên mặt đất) nấu thành cao,
dùng đường bọc ngoài làm viên. Ngày uống 30g. Một liệu trình là một tháng (Sở
Nghiên Cứu Trung Y Triết Giang).
+ Trạch Tả Hạ Áp
Thang: Trạch tả 60g, Thảo quyết minh 12g, Ích mẫu thảo 20g, Câu đằng 16g, Tang
ký sinh 12g, Hạ khô thảo 12g, Đơn bì 12g, Xa tiền tử 12g, Sắc uống (Chu Văn
Ngọc – Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Viễn Cúc Nhị
Tiên Tán Viễn chí (sống) 16g, Thiên ma 16g, Cúc hoa 6g, Thạch xương bồ 10g,
Xuyên khung 16g, Sài hồ 10g, Thiên trúc hoàng 12g, Cương tằm10g. Tán bột, mỗi
lần uống 10g, ngày 3 lần, trước bữa ăn 30 phút.
TD: Bình Can, hóa
đờm, an thần, định kinh (Vương Chí Ưu - Hiện Đại Nội Khoa Trung Y Học).
+ Hoàng tinh 2kg,
Lá dâu già 3kg, Câu đằng 1,5kg, Cành dâu 2kg, Hạ khô thảo 1kg, Hoa hòe 1,5kg.
Nấu thành cao, ngày uống 50ml (Tạp Chí Đông Y Việt Nam số 11/1967).
+ Lạc tiên 12g,
Thảo quyết minh 12g, Màn kinh 4g, Lá vông 12g, Dâu tằm (lá) 12g, Đỗ trọng 12g,
Táo nhân 12g, Hòe hoa 12g, Cúc hoa12g. Sắc uống (Tạp Chí Đông Y Việt Nam số
11/1967).
+ Sơn
tra phấn 120g, Tiêu thạch phấn 24g, Minh thiên ma phấn 16g, Linh dương giác phấn
4g, Sinh minh phàn phấn 8g. Tán nhuyễn, trộn đều. Ngày uống 2 lần mỗi lần 4g (
Tân Tân Hữu Vị Đàm).
+ Đỗ
trọng 12g, Hạ khô thảo 15g, Thổ ngưu tất 10g, Dã cúc hoa 9g. Sắc uống liên tục
10~15 ngày (Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương Phương).
+ Hạ
khô thảo 15g, Xa tiền tử 15g, Đại kế 10g, sắc uống (Trung Quốc Dân Gian Bách
Thảo Lương Phương).
+ Tang
diệp 10g, Hạ khô thảo 15g, Cúc hoa 9g. Sắc uống hàng ngày (Trung Quốc Dân Gian
Bách Thảo Lương Phương).
+ Hy
thiêm thảo 30g, Địa cốt bì 10g. Sắc uống (Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương
Phương).
+ Lá
trà 3g, Bạch cúc hoa 10g, Hoa mai khôi (hoa Hồng) 7 hoa. Sắc uống (Trung Quốc
Dân Gian Bách Thảo Lương Phương).
* Thuốc Ngoại Khoa
Chữa HA Cao
-
Thuốc Gối Đầu: (Cát Hòa Phổ, tỉnh Giang Tây): Cúc hoa, Đạm trúc diệp, Đông
tang diệp, Thạch cao (sống), Bạch thược, Xuyên khung, Từ thạch, Mạn kinh tử,
Mộc hương, Tằm sa. Cho tất cả vào 1 cái gối. Mỗi đêm gối ít nhất 6 giờ.
-
Thuốc Đắp:
1- Tỳ
ma nhân (nhân hạt Đu đủ tía) 60g, Ngô thù du 20g, Phụ tử 20g,. Tán bột. Lấy
200g Gừng sống giã nát, trộn với thuốc bột trên, thêm 10g Băng phiến, làm thành
cao. Mỗi tối đắp vào lòng bàn chân (huyệt Dũng tuyền). Mỗi liệu trình là 7
ngày. Dùng liên tục 3-4 liệu trình (Lưu Thành Báo).
2- Ngô
thù du, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 10 - 30g. Tối khi đi ngủ, lấy Dấm đun sôi, trộn
thuốc bột trên cho sền sệt, đắp vào lòng bàn chân (huyệt Dũng tuyền), dùng vải
(băng) quấn lại, để khoảng 12 giờ (Trung Dược Lâm Sàng).
3- Đào
nhân, Hạnh nhân đều 12g, Chi tử 3g, Hồ tiêu 7 hột, Gạo tẻ 14 hột. Giã nát, trộn
với 1 tròng trắng trứng gà cho sền sệt đắp vào huyệt Dũng tuyền dưới lòng bàn
chân. Mỗi ngày một lần. Mỗi ngày đắp một bên chân, thay đổi đắp cả hai chân. 6
ngày là một liệu trình (Trung Quốc Dân Gian Bách Thảo Lương Phương).
* THUỐC NAM CHỮA
HUYẾT ÁP CAO
+ Cá diếc tươi,
rửa sạch, không mổ, không đánh vẩy, cho vào nước có pha ít muối chừng 20 phút
cho cá quẫy và nhả dãi nhớt ra. Đem nấu sôi cho chín, gỡ lấy thịt nạc, bỏ ruột
đi. Cho lá dâu vào nấu thành canh, ăn cả nước lẫn cái (Tạp Chí Đông Y Việt Nam
số 11/1967).
+ Dùng con Trai
sống (tiên Bạng), đem nướng cho chảy nước ra, hứng lấy nước đó. Pha chung với
sữa Đậu nành, uống.
TD: Bình Can tiềm
dương, hạ áp rõ, các chứng đầu đau, mắt mờ giảm nhanh (Tiên Dược Liệu Trị).
+ Địa long (sống)
6 con, Thiên ma 6g, Câu đằng, Cúc hoa, Sinh địa đều 12g, Thạch quyết minh (rang)
20g, sắc uống. 15 ngày là một liệu trình.
Đã trị 34 ca, sau
khi uống 2 liệu trình thuốc, kết quả: huyết áp hạ xuống 28, không kết quả 6
(Tiên Dược Liệu Trị).
+ Rau cần tươi
500g, Vỏ dưa hấu 500g. Giã nát, vắt lấy nước, mỗi lần uống 30ml, ngày 3 lần.
Đã trị 8 ca, sau 5
ngày, có 6 ca thấy triệu chứng giảm nhẹ, lượng nước tiểu tăng nhiều, huyết áp hạ
xuống. 2 ca không có kết quả (Tiên Dược Liệu Trị).
+ Trà Sơn Tra:
Mỗi ngày dùng 20g Sơn tra nấu uống thay trà. Mới uống 2 - 3 ngày đầu, HA có thể
xuống nhanh, ngày thứ tư trở đi tốc độ xuống sẽ giảm dần. Khi HA trở lại bình
thường thì ngưng uống (Tân Tân Hữu Vị Đàm).
+ Trư Yêu Đỗ
Trọng Thang: Đỗ trọng 24g, thận heo 2 cái, nấu nhừ, ăn còn nước thì uống (
Tân Tân Hữu Vị Đàm).
+ Hoa Hồng 15g,
sắc uống hàng ngày.
Tại Bắc Kinh người
ta thử dùng trà Hoa hồng trị cho 62 ca huyết áp cao, kèm Cholesterol cao. Mỗi
ngày cho uống 15g trà Hoa hồng, sau 6 tháng, hiện tượng tê mỏi chân tay do cao
huyết áp và lượng Cholesterol trong máu dần dần hết. Chỉ cá biệt có người bị khô
miệng (Ẩm Thực Liệu Pháp).
+ Cúc hoa 24g, Kim
ngân hoa 24g. trộn đều, chia làm 4 phần, mỗi lần lấy 1 phần, đổ nước sôi vào hãm
uống, ngày 2 lần. Báo cáo của bệnh viện Long Hoa (Thượng Hải) cho thấy dùng bài
thuốc này trị 46 người huyết áp cao thể Can dương thượng cang, uống liên tục 1
tuần. Kết quả 35 người huyết áp trở lại bình thường, 9 ca có chuyển biến tốt.
+ Củ cải sống ½
kg, nghiền nát, ép lấy nước cốt, them 2 thìa cà phê Mật ong, quấy đều uống
(Trung Hoa Ẩm Thực Liệu Pháp).
+ Tỏi, cắt thành
từng miếng, ngâm vào dấm, thêm ít đường hoặc mật ong trong 5-7 ngày. Mỗi ngày ăn
2 lần, mỗi lần 2-4g, ngày 2 lần.liên tục 10-15 ngày, huyết áp hạ và giữ được độ
ổn định (Trung Hoa Ẩm Thực Liệu Pháp).
+ Bẹ thân cây
chuối hoặc quả chuối xanh (còn non) 50g, nấu lấy nước uống hàng ngày (Trung Quốc
Dân Gian Bách Thảo Lương Phương).
* CHÂM CỨU TRỊ HUYẾT ÁP CAO
-
Bình Can, tiềm dương là chính.
+ Huyệt
Chính: Phong trì, Khúc trì, Túc tam lý, Thái xung.
. Can dương
vượng: thêm Hành gian, Dương lăng tuyền, Thái dương, Ế Phong.
. Đờm thấp
ủng thịnh: thêm Nội quan, Phong long, Âm lăng tuyền.
. Thận hư, Âm
suy: thêm Thái khê, Tam âm giao, Thần môn, An miên 2.
+
Giải Thích: Phong trì là huyệt Hội của mạch Dương Duy và kinh túc Thiếu dương
Đởm có tác dụng làm cho dương không bốc lên ; Khúc trì + Túc tam lý đều thuộc
kinh dương minh là đường kinh nhiều huyết, nhiều khí, dùng để tiết dương tà;
Thái xung thuộc kinh túc quyết âm Can để bình Can tức phong ; Thái dương + Ế
phong trị phong dương quá nhiều ; Hành gian + Dương lăng tuyền để thanh Can,
Đởm; Nội quan + Phong long để hóa đờm, hòa trung ; Âm lăng tuyền để kiện Tỳ,
giáng trọc; Thái khê để bổ gốc Thận; Tam âm giao để bổ tam âm; Thần môn + An
miên 2 để an thần.
Thận dương
hư cứu Khí hải, Quan nguyên để bổ khí dương (Châm Cứu Học Thượng Hải).
-
Huyệt chính: Đầu duy, Suất cốc, Phong trì, Bá hội, Aán đường, Thái dương.
.
Can dương vượng: thêm Hành gian.
.
Âm dương đều hư: thêm Can du, Thận du, Túc tam lý, Khí hải, Thần môn, Tam âm
giao (Châm Cứu Học Việt Nam).
-
Trung quản, Khúc trì, Nhân nghinh, Túc tam lý, Thái xung, Aán đường, Tiền hậu ẩn
châu, Huyết áp điểm, Lạc linh ngũ (Châm Cứu Học HongKong).
-
Khúc trì, Nhân nghinh, Túc tam lý (Khoái Tốc Châm Thích Liệu Pháp).
-
Túc tam lý, Khúc trì, Nội quan, Tam âm giao (Châm Cứu Học Giản Biên).
-
Huyệt chính: Phong trì, Khúc trì, Túc tam lý, Thái xung.
. Can hỏa thịnh
: thêm Hành gian, Thái dương.
. Âm hư hỏa
vượng: thêm Thái khê, Tam âm giao, Thần môn.
. Đờm thấp ngăn
trở: thêm Nội quan, Phong long.
. Âm dương đều
hư: thêm Khí hải, Quan nguyên (cứu) (Tân Biên Trung Quốc Châm Cứu Học).
-
Túc tam lý, Nội quan, Tam âm giao, Bá hội, Hiệp cốc, Hành gian (Trung Y Tạp Chí
1986: 44).
-
Huyệt chính: Thái xung, Khâu khư.
. Huyệt
phụ: Hành gian, Phong trì (Hồ Bắc Trung Y Tạp Chí số 44/1986).
-
Phong trì, Thái xung.
.
Thêm Thái dương (nếu đầu đau, mắt sưng đỏ).
. Thêm Hợp cốc
(nếu có sốt cao, mặt đỏ) (Thiên Tân Trung Y Tạp Chí).
+.
Can hỏa bốc lên: Khúc trì, Phong trì. Đầu đau thêm Bá hội, Thái dương.
. Đờm hỏa nội
thịnh: Phong long, Khúc trì. Chóng mặt thêm Bá hội.
. Âm dương
vượng: Thận du, Phong trì. Thêm Bá hội, Thượng tinh.
. Âm dương đều hư
: Can du, Thận du. Thêm Thần môn, An miên 2 (Thượng Hải Châm Cứu Tạp Chí số
4/1986).
+ Tạp
Chí Đông Y Việt Nam số 11/1967 giới thiệu 2 phác đồ:
1- Can du, Phong
trì đều châm tả, Tâm du, Phục lưu đều châm bổ.
2- Bá hội, Phong
trì, Thần môn, Khúc trì, Hiệp cốc, Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao, Hiệp khê.
+ Châm huyệt Đầu
duy, cán kim hướng ra phía trước, mũi kim xiên góc 30o, mũi kim ở giữa khoảng da
và màng sọ, hướng ra phía sau đâm sâu 2-3 thốn. Vê kim liên tục 3-5 phút, lưu
kim. Ngừng vê kim. Khi huyết áp hạ xuống, lưu kim thêm 20-30 phút (Trung Hoa Bí
Thuật Châm Cứu Trị Liệu).
+ Châm Cách du,
lưu kim trong da, băng cố định lại, để 3-7 ngày (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị
Liệu).
+ Châm huyệt Khúc
trì xuyên đến Thiếu hải. Khi đắc khí, dùng thủ pháp vê, xoay, đề tháp để dẫn cảm
giác lan lên vai và xuống cổ tay. Khi thấy cảm giác tê mỏi là được. Lưu kim 1
giờ. Cứ 10 phút lại kích thích một lần (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu).
+ Dùng kim tam
lăng châm vào tĩnh mạch ở Rãnh hạ áp sau tai cho ra ít máu. Cách một ngày làm
một lần, 3 lần là một liệu trình (Trung Hoa Bí Thuật Châm Cứu Trị Liệu).
* NHĨ CHÂM
-
Dưới vỏ não, Rãnh hạ áp, Thần môn, Tâm, Giao cảm.
Châm, lưu kim 1 -
2 giờ (Châm Cứu Học Thượng Hải).
-
Rãnh hạ áp, Thượng Thận, Dưới vỏ não, Can, Thận, Giao cảm.
Mỗi
lần châm vài huyệt, kích thích vừa rồi rút kim ngay. Bệnh giảm thì có thể cách
ngày châm 1 lần (Châm Cứu Học Việt Nam).
-Rãnh
hạ áp, Giao cảm, Thần môn, Tâm (Châm Cứu Học HongKong).
-
Thượng Thận, Rãnh hạ áp, Luân tai, Thần môn, Nội tiết, Trán, Thái dương, Can,
Thận (Nhĩ Châm Liệu Pháp Tuyển Biên).
PHÒNG CAO HUYẾT ÁP
Việc ăn uống để
tránh làm cho huyết áp tăng, là điều mà cả thế giới cùng tập trung nghiên cứu để
giúp ngăn ngừa lượng người bị cao huyết áp ngày càng tăng.
Chế độ này còn
được gọilà ‘Chế Độ Tiết Thực ‘DASH’ (viết tắt của Dietary Approaches to Stop
Hypertension), có nghĩa là ‘Các Cách Tiếp Cận Bằng Chế Độ Ăn Để Chặn Đứng Cao
Huyết Áp’. Đây là chế độ ăn do Viện quốc gia về tim phổi và máu (Hoa Kỳ) tài
trợ từ năm 1997, sau một thời gian nghiên cứu thử nghiệm đã chứng minh là có
hiệu quả làm giảm huyết áp, có thể giúp ích trong việc phòng ngừa và kiểm soát
chứng cao huyết áp. Nét chính của phương pháp này chế độ ăn dồi dào trái cây,
rau và những sản phẩm từ sữa có hàm lượng chất béo thấp. Tuy nhiên so với Việt
Nam, hàm lượng mức chất béo và chất đạm theo phương thức này hơi cao (dù với
người Mỹ là thấp).Vì vậy, Viện Dinh Dưỡng Việt Nam đưa ra thực đơn khuyến cáo có
chỉ tiêu dinh dưỡng như sau (năm 1997):
. Năng lượng cung
cấp: 1800 ~ 1900kcalo.
. Phân phối Calo
giữa đạm, chất béo, bột đườnh là 14, 13, 73.
. Chất xơ: 30~40g.
. Ít Natri, giầu
Kali bằng cách hạn chế muối ăn và bột ngọt: dưới 2~4g. Ăn nhiều rau trái đem lại
nhiều Kali.
. Hạn chế các thức
uống kích thích như rượu, cà phê, trà đậm.
. Tăng sử dụng các
thức ăn uống có tính an thần, hạ áp, thông tiểu như lá Vông, Tim sen, Ngó sen,
Hoa hoè, nước Râu bắp, nước bắp luộc…
. Giảm muối và
Natri. Lượng mắm muối được dùng là 1 thìa cà phê muối hoặc 4 thìa cà phê nước
mắm/ngày.
CÁC Y ÁN CHỮA HUYẾT ÁP CAO
- Y Án Huyết Áp
Cao Thể Can, Tỳ, Thận
(Trích trong Tạp Chí Đông Y Việt Nam số 11/1967)
“Lê Trung
Ch...65 tuổi, trước đây vẫn khỏe mạnh, năm 1958 bắt đầu thấy đau vùng Thận. Khám
thấy Thận có sỏi và HA cao. Đã điều trị Đông Tây Y nhưng bệnh chỉ tạm bớt rồi
lại tái phát. HA dao động không nhất định, có khi 195/120mmHg, có khi
160/100mmHg. Khi HA lên cao thì hoa mắt, tai ù và ói mửa, lưng thường đau. Khi
đau nhiều, ngồi xuống đứng lên khó khăn, nước tiểu thường đục, chân bên phải bị
tê từ năm 1959.
Khám thấy người
gầy, da hơi xanh, mặt có khi bị ửng đỏ, hình thái yếu đuối, mệt mỏi, rêu lưỡi
thường, chất lưỡi hơi nhạt, tiếng nói yếu, ngủ kém, mạch 88 lần\ phút, 6 bộ mạch
đều Huyền, hơi Sác.
Chẩn đoán là
Huyết áp cao liên hệ với Can, Thận và Tỳ.
Điều Trị:
Kiện Tỳ, trừ thấp, bình Can, Thận và Tỳ.
Xử Phương:
Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma Thang Gia Giảm: Bán hạ 12g, Khiếm thực 20g, Tang ký
sinh 12g, Đỗ trọng 12g, Thiên ma 12g, Bạch truật 12g, Mộc qua 12g, Phục linh
12g, Bạch thược 12g, Ngưu tất 12g, Trần bì 8g, Tỳ giải 20g, Cam thảo 4g, Ý dĩ
24g. Sắc uống ngày 1 thang.
Kết quả:
Uống 20 thang, các chứng đầu đau, chóng mặt, tai ù, lưng đau đều hết, chỉ còn
chứng hoa mắt
mới giảm ít. Dùng phương cũ thêm Cúc hoa 12g để thanh Can, minh mục.
Uống thêm 8
thang nữa các chứng đều đỡ dần. Vì trời mưa nhiều nên chân bên phải lại đau.
Dùng nguyên phương thêm Độc hoạt 12g, uống thêm 16 thang thì các chứng đều bớt,
người thoải mái dễ chịu, HA xuống còn 150/90mmHg, tiểu bớt đục. Uống thêm 24
thang các chứng đều hết, HA duy trì 150/80mmHg”.
Y Án HA Cao Thể Tâm Thu - Can Dương Vượng
(Trích trong Tạp Chí Đông Y Việt Nam số 11/1967)
“ Phạm Thiên L.
48 tuổi, HA cao đã 15 năm khi khám tại bịnh viện nhưng các triệu chứng lâm sàng
chưa rõ, dần dần xuất hiện các triệu chứng mất ngủ, đầu đau, đã điều trị nhiều
nơi nhưng HA chỉ ổn định 1-2 tháng rồi lại tái lại. HA thường 220/80mmHg.
Khám thấy đầu
đau, mắt hoa, chóng mặt, muốn ói, mất ngủ, trí nhớ kém, thỉnh thoảng bị ngất, HA
đo lúc đó là 225/80mmHg, mạch 100 lần /phút.
Ngày 15/05/1966
: châm bổ Thận du, Phục lưu, Tâm du, Nội quan. Châm tả Can du, Phong trì, lưu
kim 15 phút.
Đêm hôm đó
người bệnh cảm thấy ngủ ngon.
Ngày 16.05.1966
HA đo được 180/80mmHg. Tiếp tục châm theo phác đồ trên.
Sau 17 ngày
châm cứu, các triệu chứng như đầu đau, mất ngủ, muốn ói đều hết.
Ngày 25.6.1966
kiểm tra lại, HA vẫn 120/80mmHg.
Ngày 15.8.1966
kiểm tra lại, HA vẫn như trên.
Ngày 15.12.1966
kiểm tra lại thấy ổn định “.
Y Án HA Cao Do
Can Kinh Nhiệt Thịnh + Đờm Trọc Trung Trở
(Trích Trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)
Trần X. nam, 53
tuổi, đã phát hiện tăng HA từ hơn 5 năm. Đầu váng, tai ù, nhìn mờ, có cảm giác
trống rỗng trong tim, chân tay có lúc run rẩy mà không biết, khớp tay bên phải
và 2 bên gót chân đau. Vọng chẩn thấy mặt xám, trong mắt có quầng của người cao
tuổi, môi hơi tím tái, rêu lưỡi vàng mỏng, lưỡi đỏ, miệng hôi, ăn uống được
những sau khi ăn no thì ợ hơi, bụng trên đau âm ỉ, đêm nằm mơ vẩn vơ. Mạch bên
trái Trầm Tế mà Sác, bên phải Hồng Đại mà Sác. HA đo được 200/132mmHg.
Chẩn Đoán: HA cao do Can kinh nhiệt thịnh, đờm trọc trung trở.
Điều Trị: Thanh Can, tức phong, hoạt huyết, tán ứ.
Xử
phương: Bát Vị Giáng Áp Thang: Tử đan sâm 30g, Phấn Đơn bì 16g, Thích tật lê
16g, Hoài ngưu tất 16g, Mã đâu linh 16g, Đại giả thạch 30g, Hạ khô thảo 30g,
Song câu đằng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Uống 8 thang
thì HA hạ xuống còn 180/120mmHg.
Bao tử hết
bệnh, có cảm giác đói, tuy nhiên mồ hôi trán ra khá nhiều. Như vậy người bệnh
thuộc thể hư, lại thêm huyết ứ bế tắc, uất trệ đã lâu, lạc mạch không thông
suốt được.
Dùng bài thuốc trên bỏ Đan sâm, Mã đâu linh để tránh khổ (đắng) lạnh (hàn) làm
hại sinh khí của Tỳ Vị. Dùng tiếp 6 thang, tất cả các triệu chứng đều chuyển
biến tốt và rõ rệt. HA hạ xuống còn 180/140mmHg.
Uống 46 thang,
HA hạ xuống còn 169/90mmHg.”
Y
Án HA Cao Do Phong Đờm Thượng Nghịch
(Trích Trong Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng).
“ Trương X.
nam, 48 tuổi, phát hiện tăng HA đã 2 năm. Thường thấy đầu đau dữ dội, mất ngủ,
hoa mắt, tay chân tê dại, có lúc nói khó, phản ứng chậm chạp. Đã từng dùng các
loại thuốc hạ áp như Reserpin đều ít hiệu quả. Chất lưỡi đỏ, rêu trắng bẩn, mạch
Huyền Hoạt.
-Chẩn Đoàn: HA
cao do phong đờm ngược lên gây ra bệnh.
-Điều Trị:
Trấn Can, tức phong, thanh nhiệt, hóa đàm.
-Xử Phương:
dùng bài Tức Phong Giáng Áp Thang: Toàn phúc hoa 16g, Thiên ma 16g, Đởm tinh
10g, Trân châu mẫu 24g, Bán hạ10g, Ngô công 3 con, Thạch quyết minh 40g, Câu
đằng 16g, Toàn yết 4g, Đại giả thạch 30g, Qua lâu 16g, Ngưu tất 16g, Ngưu giác
ty 20g. Sắc uống ngày 1 thang.
Uống 18 thang
các triệu chứng hoàn toàn mất hết, HA hạ xuống còn 140/95mmHg.
Dùng nguyên
phương bỏ Thiên ma, Đởm tinh, Ngô công, Toàn yết, thêm Sa sâm 16g, Bách hợp 30g,
Đương quy 30g. Uống liền 6 thang nữa, HA hạ xuống còn 138/85mmHg. Hai tháng sau,
hỏi lại, tình trạng tốt đẹp, chưa thấy HA lên cao”.
- Y
Án Huyết Áp Cao Do Thận Hư.
(Trích trong ‘ Thiên Gia Diệu Phương, q Thượng)
“ Dư X... nữ,
51 tuổi, bị tăng HA đã hơn 5 năm, HA thường ở mức 210/110 và 180/100mmHg. Thường
chóng mặt, đầu đau, hay cáu gắt, mất ngủ, hay mơ, lưng gối đau, tay chân tê, sắc
mặt đỏ hồng, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch Huyền,Tế,
Sác.
Chẩn Đoán: HA
cao do Can, Thận âm hư.
Điều trị: tư
bổ Can, Thận, giáng áp, tức phong.
Xử phương:
dùng bài Thất Tử Thang (Quyết minh tử 24g, Câu kỷ tử 12g, Thỏ ty tử 12g, Nữ
trinh tử 16g, Kim anh tử 10g, Tang thầm tử 12g, Sa uyển tử 12g.Thêm Câu đằng
12g, Bạch thược 10g, Tang ký sinh 12g. Ngày uống 1 thang. Uống được 6 thang thì
các triệu chứng chuyển biến tốt, HA giảm1 ít còn175/95mmHg. Uống tiếp 15 thang
nữa, các triệu chứng về cơ bản đã hết. HA ổn định ở 150 - 140 / 90mmHg. Uống
thêm 1 tháng nữa để củng cố. Sau hơn 1 năm chưa thấy HA tăng lại “.
Y Án Huyết Cao Do Can - Đờm
(Trích trong ‘ Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn).
“ Phan X. nam,
48 tuổi, bị HA cao đã hơn 10 năm, gần đây hơn 1 tháng, đầu bị đau, chóng mặt,
chi dưới phù, hoạt động khó khăn, nửa lưng bên phải đau, hồi hộp, lo sợ, phiền
táo, mất ngủ, hay mơ, tiểu không thông, HA 226/133mmHg, lưỡi trắng dầy, rêu lưỡi
vàng nhạt, mạch Huyền Hoạt hơi Sác.
Cho dùng bài:
Hoàng Tinh Tứ Thảo Thang: Hoàng tinh 20g, Hạ khô thảo 16g, Ích mẫu thảo 16g, Xa
tiền thảo 16g, Hy thiêm thảo 16g. Sắc uống. Uống 7 thang chứng chóng mặt giảm
nhẹ, chi dưới bớt phù. Điều trị hơn một tháng, chóng mặt và phù tiêu hết, HA
bình thường.”
Y
Án HA Cao Do Thận Hư
(Trích trong ‘ Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại
Toàn).
“ Trần X...
nam, 53 tuổi, bị HA cao đã hơn 10 năm, HA đo là 253/159mmHg, tai ù nghe không
rõ, trong tai như có ứ nước, tay chân tê, hoạt động khó khăn.
Dùng Tam Long
Thang: Long cốt 30g, Long đởm thảo 6g, Địa long (khô) 16g, Từ thạch 30g, Tang
chi 16g, Tang diệp 10g, Mẫu lệ 30g. Sắc uống ngày 1 thang.
Uống hơn một
tháng HA trở lại bình thường, tai hết kêu, ù...”
Y
Án HA Cao Do Can Dương Vượng.
(Trích trong ‘ Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn).
“Kim X... 59
tuổi,nam, bị HA cao đã hơn 2 năm, nửa đầu đau, căng, chóng mặt, gáy cứng, mắt
hoa, đi đứng khó khăn, tâm phiền, hay giận dữ, miệng khô, lòng bàn tay chân và
ngực nóng, táo bón, nước tiểu đỏ, mặt đỏ như uống rượu, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng
nhạt, mạch Huyền Tế Sác. HA 279/159mmHg.
Cho uống Hạ Ký
Cầm Thược Thang: Hạ khô thảo 30g, Tang ký sinh 20g, Hoàng cầm 16g, Bạch thược
24g, Ngưu tất 36g, Mẫu lệ 50g, Câu đằng 16g. Thêm Thạch quyết minh 20g, Thiên ma
10g, Quy bản 20g, Xuyên luyện tử 10g, Sinh địa 20g, Địa long 16g, Nguyên sâm
16g.
Sắc uống ngày 1
thang. Uống 4 thang, các triệu chứng giảm nhẹ, HA còn 239/141mmHg. Uống thêm 4
thang nữa, các triệu chứng giảm nhiều, HA còn 226/125mmHg. Thêm 4 thang nữa, các
triệu chứng đều hết. HA trở lại bình thường “.
Y Án Huyết Áp
Cao
(Trích trong ‘Châm
Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’)
Bệnh nhân Mạnh,
nữ, 44 tuổi, giáo viên, nhập điều trị ngoại trú ngày 03/03/ 1979.
Bị cao huyết áp đã
3 năm, áp huyết tăng trong khoảng 180/120 mmhg, chóng mặt, khó ngủ, kích động,
ngón tay chân tê, cảm giác tức và nặng trên đỉnh đầu, ấn vào thì đỡ.
Thăm khám: Cơ thể
gầy yếu, có vẻ đau đớn, áp huyết cao 180/130 mmhg.
Chẩn đoán tăng
huyết áp.
Điều trị: Châm
Bách hội và Thượng tinh châm xiên, sâu 0.5- 1 thốn, lưu kim khoảng 1- 2 giờ.
Khám lần thứ hai
vào ngày 5/3/1979 thấy áp huyết còn 160/100 mmHg, ngủ nhiều hơn, chóng mặt đã
giảm. Châm như cũ.
Khám lần thứ ba
vào ngày 10/03/1979: áp huyết 130/80 mmhg. Hết hẳn chóng mặt, đỉnh đầu hết căng
tức, những triệu chứng khác cũng đỡ nhiều. Châm các huyệt Bách hội (XIII 20), An
miên II và Nội quan (IX 6), vê và lưu kim 30 phút.
3 ngày châm một
lần. Châm như trên tổng cộng 5 lần để củng cố hiệu quả trị liệu.
Y Án Huyết Áp
Cao
(Trích trong ‘Châm
Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’).
Gia X, nữ, 45
tuổi, giáo viên. Khám lần đầu ngày l0/06/1979.
Bệnh nhân bị
chóng mặt, mờ mắt và không thể đứng dậy được. Khám thấy cô ta béo phì, mặt hơi
đỏ, tiếng nói chói tai và mạnh, áp huyết 190/130 mmhg, mạch Huyền Sác.
Chẩn đoán: Tăng
huyết áp.
Điều trị: Châm
hai bên cột sống phía sau cổ bằng hai kim, xoay kim không định hướng mỗi 10 phút
một lần, lưu kim 30 phút. Bệnh nhân cảm thấy giảm chóng mặt một cách đáng kể
ngay sau khi rút kim và áp huyết giảm còn 180/125 mmHg.
Sau 5 lần châm
áp huyết giảm còn 135/90 mmHg và các triệu chứng mất hẳn. Một năm sau bệnh nhân
trở lại để kiểm tra: nhận thấy áp huyết giữ ở mức 130 - 140/90 - 100 mmHg.
Bệnh Án Huyết Áp Cao
(Trích trong ‘Tiên Dược Liệu Trị’)
Bệnh nhân nam
68 tuổi. Tháng 3-1992, sốt cao, đau đầu, tinh thần mê mệt, nói sảng, thân nhiệt
4002C, huyết áp 240/167mmHg. Trong thang thuốc Bình Can Tức Phong, cho thêm 50ml
nước Trai sống và sữa đậu nàh vào uống. Sau khi uống thuốc 3 ngày, thân nhiệt hạ
xuống, đầu hầu như hết đau, tinh thần tỉnh lại, huyết áp hạ xuống dần, đến ngày
thứ 8, huyết áp hạ xuống 200/133mmHg, bệnh giảm, cho xuất viện về nhà tiếp tục
điều trị như trên.
Bệnh Án
Huyết Áp Cao
(Trích trong ‘Tiên Dược Liệu Trị’)
Một bà chủ tiệm
trà hơn 50 tuổi bị cao huyết áp, đau đầu, chóng mặt, mắt và miệng co giật. Trung
y gọi là Can dương hoá phong và hoả. Mỗi ngày bà lấy 1 bát nước Trai sống (đêm
con Trai hơ lửa cho nước trong con Trai chảy ra, hứng lấy nước này), nấu với sữa
đậu nành uống thay thức ăn. Sau khi uống thuốc vài tháng, các triệu chứng khỏi
hẳn, huyết áp trở lại bình thường. Sau mười mấy năm, mỗi ngày bà đều dùng liên
tục nước Trai + sữa đậu nành, cơ thể bà khoẻ mạnh.
*
Nhận Xét
+ Việc điều trị HA cao là công việc khó, dài ngày.
. Khó vì nguyên
nhân gây bệnh phức tạp, phải tìm cho được nguyên nhân gây bệnh mới hy vọng trị
cho dứt được.
. Dài ngày vì
thường người bệnh tìm đến với YHCT sau khi đã dùng nhiều loại thuốc Tây mà không
giảm... do đó, cần kiên trì chữa trị mới có kết quả.
+
Khi điều trị, thường có 2 vấn đề:
1-
Hạ cơn (nhất là trong trường hợp cơn HA đang lên cao).
2-
Ổn định HA (sau khi đã làm cho HA hạ xuống), duy trì kết quả điều trị.
-
Để ổn định HA về lâu về dài, dùng thuốc theo biện chứng lý luận của YHCT là
phương pháp hay nhất. Châm và bấm không hiệu quả mấy.
Tuy
nhiên, theo kinh nghiệm lâm sàng cho thấy, phương pháp tập luyện Dưỡng Sinh mới
chính là phương pháp điều chỉnh toàn diện và hay nhất (vừa dễ thực hiện vừa
không phải lệ thuộc vào thuốc và các biến chứng phụ do thuốc gây ra (dù là
thuốc YHCT
|