|
| |
DẠ DÀY ĐAU
(Gastralgia-
Gastralgie)
Đại cương
Dạ dày đau là
cách gọi chung các chứng đau ở vùng Thượng vị, trung tiêu.
Dạ dày đau là
triệu chứng chủ yếu của khá nhiều bịnh chứng của Dạ dày (Dạ dày Tá tràng viêm
lóet, Dạ dày sa, Ung thư Dạ dày, Rối loạn thần kinh chi phối Dạ dày...)
Bịnh Danh
+ Tâm thống
(Thiên ‘Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận ‘ TV 71)
+ Vị Hoãn thống,
Vị Uyển thống (Thiên ‘Kinh Mạch’ LK10)
+ Vị Quản Thống (
Đan Khê Tâm Pháp)
+ Tâm Hạ Thống (Y
Học Chính Truyền)
+ Vị Thống (Châm
Cứu Học Giảng Nghĩa).
Nguyên Nhân
1- Do Bịnh Tà
Phạm Vị (NKHTYT. Hải), Do ăn uống không tiết độ (NKHTYT. Đô):
+ Do ngoại cảm
hàn tà xâm nhập vào Vị
+ Hoặc do ăn
uống các thức ăn sống lạnh, hàn tích ở trong làm cho Vị đau.
+ Hoặc do Tỳ Vị
đang bị hư hàn lại bị hàn tà xâm nhập gây ra đau.
+ Hoặc do ăn uống
không điều độ, no đói thất thường. Aên nhiều thức ăn béo, ngọt sinh ra thấp
nhiệt ở trong gây đau.
+ Hoặc do thức
ăn uống đình trệ không tiêu hóa được gây đau.
+ Cũng có thể
do giun gây đau.
2- Do Can Khí
Phạm Vị (NKHTYT. Đô), Can Khí Uất Kết (NKHTYT. Hải).
Do lo nghĩ uất
ức làm tổn thương Can (Nộ thương Can), Can khí không sơ tiết được, phạm đến
Vị, làm cho Can Vị không điều hòa, khí cơ bị uất trệ gây ra đau.
Hoặc do khí bị uất hóa
thành Hỏa, hỏa uất làm tổn thương phần âm, dịch vị bị khô gây ra đau (đau ngày
càng tăng hoặc đau liên miên).
3 - Do Tỳ Vị
Hư Hàn (NKHTYT. Hải), Tỳ Vị Hư Yếu (NKHTYT. Đô).
Do lao động
qúa sức, no đói thất thường khiến Tỳ Vị bị tổn thương, Tỳ dương bất túc nên
hàn phát sinh gây đau.
Tuy phân ra
làm 3 loại như trên nhưng các sách giáo khoa đều thống nhất nguyên nhân chủ yếu
là do không thông (thống tắc bất thông - đau là do không thông)
Chứng Trạng Lâm Sàng
1- CAN KHÍ
PHẠM VỊ (NKHTYT. Hải và T. Đô)
a- Chứng:
Bụng trên đầy trướng, vùng Thượng vị đau xuyên ra 2 bên hông, ợ hơi, ợ chua,
táo bón, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch Trầm Huyền.
b- Biện chứng
:
Bụng trên đầy trướng, ợ
hơi, ợ chua, đại tiện bón là do Vị khí không thăng giáng được, nghịch lên
trên.
Bụng đau do
Can và Tỳ bất hòa gây ra vì Can chủ sơ tiết, khi tình chí không được thư thái,
Can khí bị uất kết, phạm (khắc) Vị (thổ).
Hông và sườn
liên hệ đến Can kinh (Can kinh vận hành qua đó), bịnh thuộc về khí, khí
thường động, do đó, 2 hông sườn bị đau.
Mạch Huyền là
mạch của Can.
Như vậy Dạ
dày đau ở đây là do Can khí bị uất kết, Can khí phạm Vị gây ra.
Điều trị:
+ Sơ Can, lý
khí (T. Hải)
+ Sơ Can lý
khí, hòa Vị, chỉ thống (T. Đô).
Đều dùng bài
Sài Hồ Sơ Can Tán (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Sài Hồ 8g, Bạch thược 12g, Chích
thảo 4g, Chỉ xác 8g, Hương phụ 8g, Xuyên khung 8g. Sắc ngày uống 1
thang.
(Đây là bài Tứ
Nghịch Tán của sách Thương Hàn Luận thêm Xuyên khung, Hương phụ (Trần Bì).
Sài Hồ sơ Can, lý khí; Thêm Hương phụ để tăng tác dụng của Sài Hồ; Phối hợp
thêm Chỉ xác (thực) để thăng thanh giáng trọc; Thược dược ích âm hòa lý; Hợp
với Chỉ xác có tác dụng sơ thông khí trệ; Chích thảo điều hòa trung khí,
cùng với Thược Dược có tác dụng thư cân, hòa Can; Xuyên khung để hành khí,
giúp tăng tác dụng giải uất của Sài Hồ và Hương phụ).
- Sách ‘Trung
Y Học Khái Luận ‘ dùng Tả Kim Hoàn hợp với Nhị Trần Thang
+ Tả Kim Hoàn
(Đan Khê Tâm Pháp): Hoàng Liên (sao gừng) 240g, Ngô Thù Du (Tẩm nước muối
sao) 40g. Tán bột, tưới nước làm hoàn.
+ Nhị Trần
Thang (Hoà Tể Cục Phương): Bán Hạ 8- 12g, Trần Bì 8- 12g, Phục Linh 12g,
CamThảo 4g. Sắc uống.
(Hoàng Liên
thanh nhiệt ở Vị làm quân để trị Can thực gây đau; Ngô Thù Du để hành khí giải
uất và dẫn nhiệt đi xuống, giáng nghịch khí; Bán Hạ để táo thấp hóa đàm, hòa
Vị; Trần Bì để lý khí, hóa đàm; Phục Linh kiện Tỳ lợi thấp; Cam thảo hòa
trung bổ Tỳ).
- Sách ‘Nội
Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa dùng bài Kim Linh Tử Tán và Trầm Hương Giáng Khí
Tán.
+ Kim Linh Tử
Tán (Kinh Huệ Phương - Bảo Mệnh Tập): Kim Linh Tử (Hột sầu đâu, nấu với rượu,
bỏ hột) 12g, Diên Hồ Sách (Sao với dấm) 4g. Sắc uống.
(Kim Linh Tử
sơ Can tiết nhiệt và giãi trừ uất nhiệt ở Can kinh, phối hợp với Diên Hồ Sách
có thể trị các chứng đau trên dưới, trong ngoài, khí trệ).
+ Trầm Hương
Giáng Khí Tán (Hòa Tễ Cục Phương): Trầm Hương (nghiền mịn, để riêng) 10g,
Chích thảo (sao chung với Sa nhân) 20g, Sa nhân 30g, Hương phụ 20g. Sắc
uống.
(Hương phụ
lýkhí, giải uất; Sa nhân hòa Tỳ Vị; Chích thảo điều hòa trung khí; Trầm
hương giáng khí, chỉ thống).
- Sách ‘Tân
Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương’ dùng bài Sơ Can Hòa Vị Pháp, Trị Can Khí Thông
Mạch Hư Đắc Thực Sảo Hoãn Phương.
+ Sơ Can Hòa
Vị Pháp (Loại Cát Sinh Kinh Nghiệm Phương): Cam Tùng 6g, Vị Bì (da Nhím) 2g,
Cam thảo 4g, Nước cốt gừng 5ml, Ngọa Lăng 6g,
Cửu hương trùng 4g, Diên Hồ 2g, Trầm Hương 2g, Hương phụ (chế) 2g, Giáng
hương 6g, Tả Kim Hoàn (Hoàng Liên + Ngô Thù Du) 4g. Sắc uống.
(Cam Tùng,
Hương phụ, Trầm Hương để lý khí; Diên Hồ để hoạt huyết; Cửu Hương Trùng để
sơ thông khí trệ ở ngực bụng; Ngọa Lăng Tử để tiêu chất chua; Da Nhím để lương
huyết, nước cốt gừng để ôn ấm Tỳ Vị; Tả Kim Hoàn để tả Can Hỏa).
+ Trị Can Khí
Thống Mạch Hư Đắc Thực Sảo Hoãn Phương (Linh Lăng Y Thoại): Kim Thạch Hộc 12g,
Cam thảo 4g, Sa Sâm 12g, Quất Hồng 6g, Sài Hồ 6g, Bạch thược 12g, Mộc Qua 8g,
Quy Tu 12g, Phục Linh 12g. Sắc uống.
(Sài Hồ sơ Can
khí; Sa Sâm, Thạch Hộc dưỡng Can âm; Bạch thược, Quy, Thảo để hòa huyết,
giảm đau; Quất Hồng, Phục Linh, Mộc Qua để bình Can Mộc cho khỏi khắc Tỳ
thổ).
+ Trị Can Khí
Phạm Vị Quản Hiếp Thống Ẩu Thổ Toan Thủy Bất Đắc Hạ Phương (Bản Thảo Dụng Pháp
Nghiên Cứu): Quảng Mộc Hương 20g, Đinh Hương 40g, Ngũ Linh Chi 20g, Xạ Hương
2g, Bồ Công Anh 20g, Phật Thủ 20g, Ngô Thù Du 20g, Đương quy 20g, Diên Hồ Sách
20g, Cam thảo 20g, Hoàng Liên 20g, Phụ Phiến 20g, Trầm Hương 40g, Sa nhân
20g, Hương phụ20g. Sắc uống.
- Sách ‘Đại
Chúng Vạn Bịnh Cố Vấn ‘dùng bài:
+ Chính Khí
Thiên Hương Tán (Lưu Hà Gian): Ô dược 40g, Trần Bì 32g, Hương phụ ï 32g, Can
Khương 40g, Tử Tô Diệp 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 4g với nước muối. Ngày 2- 3
lần.
+ Sách ‘Trung
Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phưiơng Đại Toàn’ dùng:
Vị Quản
Thống Phương I: Qua lâu nhân 18g, Quy vĩ 6g, Xuyên luyện tử 10g, Đan sâm 10g,
Chử Bán hạ
6g, Mộc hương 4g, Hàng thược 6g, Sa nhân 2,8g. Sắc uống.
Vị Quản
Thống Phương II: Sài hồ 10g, Uất kim 10g, Bạch thược 10g, Xuyên luyện tử 10g,
Cam thảo 6g, Hương
phụ chế 10g, Nguyên hồ 10g, Chỉ xác 10g, Tô ngạnh 10g. Sắc uống.
Sơ Can An
Vị Ẩm: Ngọa lăng tử 16g, Ý dĩ nhân 16g, Hoàng Uất kim 12g, Nguyên hồ
12g, Bạch
tật lê 12g, Phật thủ12g, Bạch thược 20g, Sài hồ 12g, Ô dược10g, Chỉ xác 10g. Sắc uống.
Mai Hương
Ẩm: Lục ngạc mai (đài xanh cây mơ) 10g, Nguyên hồ 10g, Cưủ hương trùng 10g, Bạch
thược 16g, Hương
phụ chế 10g, Giáng hương 10g, Phật thủ phiến 16g, Cam thảo 6g. Sắc
uống.
- Sách ‘Trung
Dược Lâm Sàng Dược Lý Học ‘ giới thiệu 2 bài:Việt Cúc Hoàn và Lục Uất Thang.
+ Việt Cúc
Hoàn (Đan Khê Tâm Pháp): Hương phụ 12g, Thương truật 12g, Xuyên khung 12g,
Lục khúc 12g, Hắc Sơn chi 2g. Sắc uống.
(Hương phụ
lý khí; Xuyên khung hỗ trợ sức hoạt huyết, hành khí; Thương truật táo thấp hóa
đàm; Chi tử tả tà nhiệt ở Tâm và Phế, giải uất ở TamTiêu; Lục khúc để tán
khí, khai vị, hóa thủy cốc, tiêu tích trệ).
Lục Uất
Thang (Y Học Nhập Môn): Hương phụ tử 4g, Bán hạ 4g, Sơn chi tử 4g, Xích linh
4g, Thương
truật 2g, Trần bì 4g, Cam thảo 2g, Xuyên khung 4g, Sa nhân 2g. Sắc uống với
3 lát gừng sống.
- Sách ‘Thiên
Gia Diệu Phương ‘ dùng:
Tam Hương
Thang Gia Vị: Hương phụ 26g, Tam tiên 46g, Mộc hương 6g, Lai phục tử 40g, Hoắc
hương
16g, Binh lang phiến 10g, Trần bì 16g, Cam thảo 10g, Phật thủ 16g. Sắc uống.
* Ghi chú:
Bài này chú trọng lý khí để thuận khí cơ. Hành khí có thể họat huyết, họat
huyết có thể giảm đau. Khí huyết thông điều, chứng trướng đau sẽ hết. Bài
thuốc tuy dùng liều cao để lý khí nhưng thực tế lâm sàng đã chứng minh thuốc
không làm hao khí, xử dụng không có hại. Tuy nhiên, bài này không phải là
thuốc bổ khí, vì vậy, đúng bệnh rồi thì phải ngừng, không được dùng lâu dài).
Mộc Hương
Khoan Trung Tán (Chứng Trị Chuẩn Thằng): Thanh bì 160g, Hậu phác (chế) 600g,
Trần bì
160g, Hương phụ (sao) 120g, Đinh hương 160g, Mộc hương 120g, Bạch đậu khấu
80g, Sa nhân 120g. Tán bột, Ngày 3 lần, mỗi lần 4g với nước muối.
- Liên Phụ Lục
Nhất Thang (Y Học Chính Truyền): Hoàng liên 24g, Phụ Tử (nướng bỏ vỏ và cuống
) 4g, Thêm gừng 3 lát, Táo 1 quả, sắc uống.
- Lương Phụ
Hoàn (Lương Phương Tập Dịch): Cao lương khương (Sao rượu 7 lần, sấy khô),
Hương phụ tử (sao dấm 7 lần, sấy khô). Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 12- 16g
với nước muối.
-Cứu Thống An
Tâm Thang (Biện Chứng Lục): Bạch thược 40g, Quán chúng 18g, Cam thảo 4g, Nhũ
hương 4g, Sài hồ 8g, Một dược 4g, Chi tử (sao) 12g, Thương truật 12g. Sắc uống.
- Dũ Thống Tán
(Tế Sinh Phương): Ngũ Linh Chi, Cao Lương khương, Diên Hồ Sách, Đương quy,
Nga Truật. Lượng bằng nhau, tán bột. Ngày uống 6- 8g.
+ Phương Đơn
Giản (Theo NKTYHT. Đô)
. Bách hợp
32g, Ô dược 6g, Ngọa lăng tử 160g, Cam thảo 60g. Tán bột, ngày uống 3 lần,
mỗi lần 4g.
. Ô tặc cốt
30g, Triết bối mẫu 12g. Tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4g (Ô Bối Tán).
- CHÂM CỨU
+ Châm Cứu Học
Thượng Hải: Nội Quan, Túc Tam Lý, Thái Xung, Trung quản.
(Nội Quan
thông với Âm Duy mạch trị bịnh ở Vị và Tâm, hợp với Túc Tam Lý trị nước chua ở
bảo tử và bịnh ở Dạ dày, khí trệ ơ û Can, Vị, Thái Xung để bình Can Khí).
+ Châm Cứu Học
Giảng Nghĩa: Trung Quản, Kỳ Môn, Nội Quan, Túc Tam Lý, Dương Lăng Tuyền.
(Trung Quản,
Túc Tam Lý để sơ thông Vị khí, thăng thanh giáng trọc, Nội Quan mở uất kết ở
ngực, Vị Quản, phối hợp với Kỳ Môn, Dương Lăng Tuyền để bình Can và Đởm khí).
+ Trung Y Học
Khái Luận: Trung Quản, Nội Quan, Túc Tam Lý.
+ Trung Quốc
Châm Cứu Học Khái Yếu: Trung Quản, Nội Quan, Túc Tam Lý.
+ Châm Cứu Học
Giản Biên: Thượng Quản, Hợp Cốc, Túc Tam Lý.
+ Trung Hoa
Châm Cứu Học: Vị Du, Thượng Quản, Trung Quản, Túc Tam Lý, Công Tôn.
+ Lâm Sàng Đa
Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học: Vị Du, Tam Tiêu Du, hoặc Can Du, Vị Du, Trung Quản,
Túc Tam Lý.
+ Châm Cứu Trị
Liệu Học: Trung Quản, Túc Tam Lý (đều bổ), Nội Quan, Thái Xung (đều tả).
+ Thái Ất Thần
Châm Cứu: Trung Quản, Chương Môn, Cự Khuyết (châm xiên xuống dưới), Thiên xu
(cứu), Túc Tam Lý, Nội Quan, Công Tôn.
2- TỲ VỊ HƯ
HÀN (NKTYT. Hải và T. Đô)
a- Chứng: Đau
âm ỉ, ói ra nước trong, thích nóng, tay chân lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi
nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Tế không lực.
b- Biện chứng
. Do trung
dương bất túc, Tỳ hàn Vị yếu, dương khí không vận chuyển được, hàn khí tích trệ
nghịch lên vì vậy đau âm ỉ mà ói ra nước trong.
. Tỳ Vị dương
hư, bên trong lạnh do đó thích chườm nóng.
. Dương khí
không vận hành do đó tay chân lạnh, ỉa lỏng.
. Lưỡi nhạt,
rêu lưỡi trắng, mạch Tế Nhược không lực là dấu hiệu hư hàn ở trung tiêu.
c- Điều trị:
. Ôn trung
tán hàn (NKHTYT. Hải)
. Ôn trung
kiện Vị (NKHTYT. Đô)
+ Nội Khoa Học
(Trung Y Học Thượng Hải) dùng bài ‘Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang Gia Vị’: Quế chi
12g, Mộc hương 4g, Thược dược 24g, Đại táo 2 trái, Hoàng kỳ 24g, Bào khương
8g, Chích thảo 4g. Sắc xong, cho ít Mạch Nha vào, quấy đều uống.
(Đây là bài
Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang (KQYL) thêm Mộc Hương, thay Sinh khương bằng Bào
khương. Quế chi tán biểu; Thược dược bình Can; Bào khương, Hoàng kỳ, Chích
thảo để ôn trung kiện Tỳ; Mộc Hương lý khí giảm đau; Đại táo điều hòa vinh
vệ).
+ ‘Nội Khoa
Trung Y Học Thành Đô’ dùng bài ‘Đinh Thù Lý Trung Thang’ (Thương Hàn Toàn Sinh
Tập): Đinh Hương, Quan quế, Can khương, Phụ tử, Ngô thù du, Cam thảo, Bạch
truật, Sa nhân, Nhân sâm, Trần bì. Sắc uống với ít Mộc Hương đã mài.
+ Sách ‘Nội
Khoa Trung Y Học Giảng Nghĩa’ dùng bài ‘Hương Sa Lục Quân Tử Thang ‘(Hoà Tễ Cục
Phương): Đảng sâm 12g, Chích thảo 4g, Phục linh 12g, Bán hạ 8g, Bạch truật
12g, Trần bì 8g.
(Đây là bài
Tứ Quân Tử Thang thêm Bán hạ và Trần bì. Sâm để bổ khí; Bạch truật kiện Tỳ,
vận thấp; Cam thảo giúp Sâm để ích khí hòa trung; Bán hạ táo thấp, hóa đàm,
hòa vị; Trần bì lý khí hóa đàm).
+ ‘Sách Tân
Biên Trung Y Kinh Nghiệm Phương’ dùng bài: Ôn Thông Lý Khí Pháp (Đinh Cam
Nhân): Bội lan diệp 12g, Ô dược 8g, Xuyên luyện tử 12g, Bạch linh 12g,
Thượng quế tâm 6g, Quất diệp 8g, Trầm hương duyên 6g, Tô ngạnh 12g, Ngọa
lăng tử 20g, Sa nhân 6g, Bạch thược 12g, Sắc uống.
(Quế Tâm ôn
Vị, hoạt huyết; Ô dược, Sa nhân, Tô ngạnh, Hương duyên để lý khí, chỉ
thống; Nhị Trần hợp với Bội lan để hòa Vị, tiêu kết; Xuyên luyện, Quất
diệp, Ngọa lăng tử để bình Can tiết Mộc).
+ Sách ‘Thiên
Gia Diệu Phương’ dùng bài Lương Phụ Hoàn Gia giảm: Cao Lương Khương (sao rượu)
6- 16g, Hương phụ (Sao dấm) 10- 16g, Thanh bì 10g, Uất kim 10- 18g, Sa
nhân 10g. Sắc uống.
* Ôn Vị Chỉ
Thống Thang: Quế chi 6g, Nguyên hồ 10g, Ngô thù 6g, Bào khương 6g, Vân linh
10g, Đương quy 10g, Bạch thược 10g, Bạch truật 12g, Đinh hương 4g. Thêm Hồng
Táo 3 trái, sắc uống.
- Sách Trung
Quốc Đương Đại Danh Y N ghiệm Phương Đại Toàn dùng bài Kiện Tỳ Thang: Ngọa lăng
tử 30g, Đảng sâm 12g, Bạch truật 10g, Chích thảo 6g, Bạch thược 10g, Trần
bì 6g, Xuyên luyện 4g, Bán hạ 10g, Phục linh 12g, Ngô Thù 4g. Sắc uống.
- Sách Đại
Chúng Vạn Bịnh Cố Vấn dùng bài Thảo Đậu Khấu Hoàn (Trầm Thị Tôn Sinh): Thảo
đậu khấu (nướng) 40g, Can khương 80g, Ngô thù du 80g, Mạch nha 80g, Thanh bì
40g, Trần bì 40g, Bạch truật 40g, Chỉ thực 80g, Thần khúc 80g, Bán hạ 80g. Làm
thành hoàn, ngày uống 20g với nước nóng.
Phương đơn
giản (NKHTYT. Đô).
+ Xuyên Tiêu
4g, Lương Khương 12g, Cam thảo 8g. Sắc, chia làm 3 lần uống.
+ Xuyên tiêu
4g, Can Khương 8g, Đinh Hương 4g. Sắc uống.
CHÂM CỨU
. Sách Châm
Cứu Học Giảng Nghĩa: Châm bổ và cứu Tỳ Du, Vị Du, Trung Quản, Chương Môn, Nội
Quan, Túc Tam Lý.
Phân tích:
Dùng Vị du + Trung Quản và Tỳ Du + Chương Môn là phối hợp Du + Mộ huyệt, chuyên
trị thể tạng và khí không đủ, thêm Nội Quan, Túc Tam Lý để điều hòa Vị khí và
chặn cơn đau.
. Châm Cứu Học
Thượng Hải: Nội Quan, Túc Tam Lý, Trung Quản, cứu Tỳ du, Vị Du.
(Trung Quản
+Nội Quan +Túc Tam Lý là 3 huyệt có tác dụng đặc hiệu trị bệnh tiêu hóa (chủ
yếu do Vị khí mất điều hòa), cứu Tỳ Du, Vị Du để ôn bổ Tỳ Vị).
. Châm Cứu Học
Giản Biên: Lương Môn, Trung Quản, Túc Tam Lý, Công Tôn, Nội Quan.
. Châm Cứu Trị
Liệu Học:Trung Quản, Quan Nguyên, Túc tam Lý, (đều cứu) Vị du (đều tả).
. Lâm Sàng Đa
Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học:Trung Quản, Thiên xu, Khí Hải, Quan Nguyên (đều
cứu).
. Thần Cứu
Kinh Luận:Cứu Cách Du, Tỳ Du, Vị Du, Nội Quan, Dương Phụ, Khâu Khư.
.Thần Ứng Kinh
: Thái Uyên, Ngư Tế, Túc tam Lý, 2 huyệt ở dưới vú 1 thốn, Cách du, Vị Du,
Thận Du (Cứu số tráng tùy theo tuổi).
3- ĂN UỐNG
KHÔNG ĐIỀU ĐỘ (NKTYHG. Nghĩa và T. Đô)
a. Chứng:Vùng
Thượng Vị đau, ợ ra mùi thức ăn, ói mửa, ói được thì đỡ đau, lưỡi và rêu
trắng bẩn, mạch Họat mà Thực.
b. Biện chứng
: Thức ăn đình trệ ở Vị không tiêu hóa được làm cho Dạ dày đau, đầy trướng,
thức ăn tích lại trọc khí không chuyển đi được, Vị khí không thăng giáng được
gây ra ói, thức ăn không tiêu được nên ợ ra mùi thức ăn.
c. Điều trị:
Hòa trung,
Tiêu thực (Nội Khoa Học Giảng Nghĩa).
Hòa trung,
Đạo trệ (Nội Khoa Học Trung Y Thành Đô).
+ Sách NKHTYT.
Đô dùng bài Bảo Hòa Hoàn (Đan Khê Tâm Pháp): Sơn tra 240g, Lục khúc 80g, Bán hạ
120g, Thái phục tử 120g, Trần bì 40g, Phục linh 40g, Liên kiều 80g. Tán bột,
làm hoàn, ngày uống 12- 24g.
(Sơn tra +
Lục khúc + Thái phục tử đều giúp tiêu hóa, tiêu tích thực (Sơn tra tiêu chất
thịt, chất nhờn; Lục khúc tiêu ngũ cốc, tích trệ; Thái phục tử tiêu chất bột
) Trần bì + Bán hạ + Phục linh hòa Vị; Liên kiều tán thực trệ tích dẫn đến uất
nhiệt).
+ Sách NKHG.
Nghĩa cũng dùng bài Bảo Hòa Hoàn, thêm Sa nhân, Chỉ Thực và Binh Lang.
+ Sách Trung
Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn dùng bài Điều Vị Thang: Đảng sâm
16g, Quảng mộc hương 10g, Bạch truật 10g, Đại phúc bì 10g, Hậu phác
10g, Chỉ xác 10g, Xuyên luyện tử 10g, Tất bát 10g. Sắc uống.
+ Sách Lâm
Sàng Đa Khoa Tổng Hợp Trị Liệu Học dùng: Đương quy 12g, Ma nhân 12g, Bạch
truật 8g, Kê nội kim 12g, Hòang kỳ 8g, Can khương 4g, Đảng sâm 12g, Úc lý nhân
12g, Qua lâu nhân 20g, Trần bì 4g, Mạch nha 16g. Sắc uống.
4- Ứ HUYẾT
NGƯNG TRỆ (NKHT Hải) VỊ LẠC Ứ TRỞ (NKHT. Đô)
a) Chứng:
Đau vùng thượng vị, đau 1 điểm không di chuyển, đau như kim đâm, không thích
ấn nắn, ấn vào thì đau, có khi ói ra máu, ỉa ra phân đen, lưỡi tím, mạch Tế
Sáp (T. Hải), Sáp (T. Đô).
b) Biện Chứng:
Đau lâu ngày, bịnh chắc chắn nhập vào lạc mạch, lạc mạch bị tổn thương gây ra
ói ra máu, phân đen, huyết ứ lại gây nên đau cố định 1 chỗ, không thích ấn
nắn, lưỡi thâm tím, mạch Sáp là biểu hiện huyết ứ.
c) Điều trị:
. Hóa ứ,
thông lạc (NKHT. Hải).
. Hoạt huyết,
hóa trệ (NKHT. Đô).
+ Nội Khoa
Học Thượng Hải dùng bài Cách Hạ Trục Ứ Thang (Y Lâm Cải Thác) gia giảm: Ngũ
linh chi 12g, Ô dược 8g, Đương quy 12g, Huyền hồ 4g, Xuyên khung
12g, Cam thảo 12g, Đào nhân 12g, Hương phụ 6g, Đơn bì 8g, Hồng hoa
12g, Xích thược 8g, Chỉ xác 6g. Sắc uống.
Phân Tích
:Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Đơn bì, Xích thược để hoạt
huyết; Ngũ
linh chi, Huyền (Diên) hồ để hóa ứ; Hương phụ, Chỉ xác, Ô dược để lý khí; Cam
thảo dùng lượng cao để hoãn bớt tính mạnh (tuấn dược) của các vị thuốc.
. NKH T. Đô
dùng: Thất Tiếu Tán + Đan Sâm Ẩm:
+ Thất Tiếu
Tán (Cục Phương): Ngũ linh chi 240g, Bồ hoàng 160g. Tán bột. Mỗi lần dùng
8- 12g, dùng bao vải bọc thuốc rồi sắc với nước, phân làm 2 lần uống, hoặc
hòa với dấm uống.
(Ngũ linh
chi tán huyết; Bồ hoàng hành huyết).
(Ngũ linh chi
tán huyết; Bồ hoàng hành huyết).
. NKTYHG Nghĩa
: Dùng Thất Tiếu Tán
Phương đơn
giản (NKHT. Đô)
+ Cửu hương
trùng 12g + Thục mai (chế) 12g. Sắc chia 3 lần uống
+ Đương quy +
Đan sâm + Nhũ hương + Một dược đều 12g. Sắc chia 3 lần uống.
+ Diên hồ sách
8g + Ô tặc cốt 16g + Bạch cập 20g + Địa du 32g. Sắc chia 3 lần uống.
Ngoài 4 nguyên
nhân và thể loại chính (Can Khí Phạm Vị, Tỳ Vị Hư Hàn, Ăn Uống Không Điều Độ,
Ứ Huyết Tích Trệ) trên, sách Nội Khoa Học Trung Y Thành Đô còn nêu ra 2 thể
loại nữa là:
5- VỊ ÂM BẤT
TÚC
a- Chứng:Dạ
dày đau lâu ngày, đau liên miên, phiền nhiệt, đói mà không ăn được, miệng
và họng khô, bón lưỡi hồng, ít nước miếng, Mạch Hư, Tế, Sác.
b- Biện chứng
: Vị âm bất túc nên Vị lạc không được nuôi dưỡng gây ra đau liên miên. Âm hư
sinh nội nhiệt gây ra phiền nhiệt, đói, miệng và họng khô, đại tiện bón. VỊ
không được nhu dưỡng, VỊ khí bị thụ thương, do đó đói mà không ăn được, lưỡi
hồng, ít tân dịch + Mạch Hư Tế Sác là dấu hiệu VỊ âm bất túc.
c_ Điều trị:
Dưỡng Âm, Ích Vị
Xử phương:
Nhân Sâm Ô Mai Thang (Ôn Bệnh Điều Biện): Nhân sâm, Cam thảo (Chích),
Liên tử (sao), Mộc qua, Ô mai, Sơn dược. Sắc uống.
Phương đơn
giản (NKH T. Đô): Bạch thược 32g + Cam thảo 12g. Sắc uống.
6- HÀN THƯƠNG
VỊ DƯƠNG
a- Chứng: Dạ
dày đột nhiên đau, đau như dùi đâm, đau phát sốt hoặc đau xiên lên ngực,
sườn, hông, đầu và cơ thể đau, ớn lạnh, phát sốt, rêu lưỡi trắng, mạch
Khẩn.
b- Biện
chứng: Hàn tà xâm nhập, Vị dương không tuyên thông, gây ra đau, đầu và mình
đau, sợ lạnh, sốt, rêu lưỡi trắng là hàn tà còn ở bên ngoài biểu, mạch Khẩn
thuộc Hàn.
c- Điều trị:
Ôn Vị chỉ thống, Hoà giải biểu lý.
Xử phương:
Sài Hồ Quế Chi Thang thêm Ngô thù + Lương khương + Hương phụ.
Sài Hồ Quế
Chi Thang (Thương Hàn Luận): Quế chi (bỏ vỏ) 6g, Bán hạ 10g, Hoàng
cầm 6g, Thược dược 6g, Nhân sâm 6g, Sài hồ 16g, Chích thảo 4g, Đại táo 6 trái,
Sinh khương 6g. Sắc uống.
+ Sách
:’ Bịnh Tỳ Vị’ dùng:
Củ Riềng già
(thái mỏng phơi khô) 80g Hương phụ (sao hết lông, giã dập) 40g
Dây cườm thảo
10g. Tán bột. Ngày uống 20g với nước nóng.
Phương đơn
giản
- Lương Khương
8g + Hương phụ 8g + Sinh khương 1 ít. Sắc uống (NKH T. Đô).
- Hồ Tiêu (
Phấn) + Nhục Quế (Phấn). Ngày uống 2- 4g (NKH T. Đô).
- Chỉ Thực 8g
+ Quế Tử 8g. Sắc uống (NKH T. Đô).
Châm Cứu Học
Thượng Hải: Nội quan + Túc tam lý + Trung quản + Cách du + Tam âm giao + Công
tôn.
Châm Cứu Trị
Liệu Học: Cách du + Tam âm giao (đều châm tả) + Chương môn (Cứu)
NGOẠI KHOA
Sách “ Tân Hữu
Vị Đàm “ của Trần Nhân Tôn giới thiệu 2 phương pháp chườm nóng sau:
+ Đại hồi 40g,
giã nát. Tiểu hồi 20g, Muối 1 bát (100g). Cho vào nồi, sao nóng, rồi đựng
vào túi vải, chườm vào vùng thượng vị (Dạ dày) và lưng (D8- D12).
+ Đại hồi 40g,
Tiểu hồi 40g, Mộc hương 20g, Hoa tiêu 20g. Tán bột thêm 100g muối. Đem sao lên
cho nóng, bọc vào vải, chườm vào vùng đau.
Hai phương
pháp này rất phù hợp với chứng đau do Can khí uất và Tỳ Vị hư hàn.
. GC: Hồi
hương và muối hột càng cháy đen khí càng mạnh. Mỗi bịch thuốc như trên có thể
dùng để chườm 5 lần rồi mới bỏ đi.
THUỐC NAM (
Để tham khảo)
. Lá Bồ công
anh khô 20g, Lá khôi 16g, Lá khổ sâm10g. Sắc 300ml, nấu sôi trong vòng 15
phút, thêm vào ít đường. Chia làm 3 lần uống. Uống liên tục 10 ngày, nghỉ 3
ngày rồi lại tiếp tục cho đến khi khỏi (Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam).
. Riềng (Xào
)20g, Tiêu sọ 8g, Muối tiêu hoặc muối rang 4g. Tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi
lần 4g (293 Bài Thuốc Gia Truyền).
. Củ Bồ Bồ
40g, củ Sả già, củ Cỏ Cú, mỗi thứ 10g. Đậu đỏ, xanh, vàng, đen, mỗi thứ
100 hột, rang lên. Dạ dày heo 1 cái sấy dòn. Tất cả phơi sơ, tán thành
bột, cho vào lọ để dành dùng dần. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 4g (293 Bài
Thuốc Gia Truyền)
BỆNH ÁN ĐIỂN HÌNH
Bệnh án Vị
Quản Thống do Can Khí Phạm Vị
(Trích trong
Thiên Gia Diệu Phương)
Trần XX nữ,
35 tuổi.... Mấy năn nay, người bệnh có tiền sử đau Dạ dày, đã nhiều lần
chụp X quang nhưng không thấy vết loét. Chẩn đoán là rối loạn thần kinh Dạ dày
.
Lúc lên cơn
đau thì như dao cắt, mặt xanh nhạt,2 tay ôm bụng, rên rỉ không ngừng, mạch Huyền
mạnh mà Tế, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng trắng đục.
Đã dùng các
phép trị Vị âm bất túc, Can Vị bất hòa, không có hiệu qủa, vẫn kêu đau bụng chạy
lên xuống ở Dạ dày.
Đã uống thuốc
giảm đau nhưng không hết, cho ăn một ít cháo thấy đau giảm dần, nhưng sau đó nửa
giờ lại đau như trước.
Chẩn
đoán là khí âm đều hư, Can dương hóa phong phạm vào Vị lạc gây ra bịnh.
Điều trị
: Dưỡng âm tiềm dương, bình Can tức phong
Xử
phương: Dùng bài “ Tam Giáp Phục Mạch Thang “ gia giảm:
Quy bản 26g,
Sinh Địa 20g, Miết
giáp
26g,
A Giao
16g,
Mẫu Lệ
26g,
Mạch Môn 16g,
Trúc nhự
26g,
Sa Sâm 16g,
Phật thủ6g,
Cam thảo 6g,
Bạch thược 20g,
Hải Đế bá
26g.
Sắc uống ngày
1 thang.
Uống hết 3
thang thì chứng đau giảm nhiều, việc đau chạy lên xuống gần như hết, nhịp mạch
hòa hoãn, rêu lưỡi cũng đỡ đục dần.
Dùng bài Lục
Quân Tử Thang (Đảng Sâm, Bạch Truật, Phục Linh, Cam thảo, Trần Bì, Bán Hạ)
bỏ Bạch Truật, phối hợp với bài Mạch Môn Đông Thang (Mạch Môn, Bán Hạ, Nhân sâm
, Cam thảo,Gạo tẻ, Đại táo) bỏ táo đi. Điều trị 10 ngày nữa mọi chứng đều
hết.
Bệnh án Dạ Dày Đau Do
Can Khí Phạm Vị
(Trích
trong “ Trung Quốc Đương Đại Danh Y Nghiệm Phương Đại Toàn “)
_Vương X, 38
tuổi, nhập viện này 4. 5. 76. Dạ dày bị đau đã 7 - 8 năm.Thường đau lâm râm
lan đến sườn trái, bụng trên hơi trướng, sau lưng có 1 điểm hơi lạnh. Đã chữa
nhiều thuốc Đông, Tây nhưng không hết.
Chẩn
đoán: Dạ dày đau do Can Khí Phạm Vị
Xử
phương: Dùng bài Tam Nguyên Hòa Vị Thang gia giảm: Bán Hạ(chế) 5g, Xuyên
luyện tử (sao) 5g,
Trần bì 6g, Diên hồ (sao) 6g, Bạch linh 10g, Sa nhân 8g, Mộc hương 4g, Tuyền
phúc hoa (bọc vào vải) 10g, Phật thủ phiến 8g, Kê nội kim (nướng) 8g, Đài
xanh cây mơ 8g, Tân giáng 2g, Cọng hành xanh 8 cọng, Cốc Nha (sao) 8g. Sắc
uống.
(Đây là bài
Tam Nguyên Hòa Vị Thang, bỏ Chích thảo, thêm Mộc Hương, Phật Thủ, Sa nhân, Kê
Nội Kim, Cốc Nha, Đài Mơ) ngày uống 1 thang, liền 5 ngày.
Khám lại:
Đau và trướng đã giảm bớt, ăn uống được khá hơn, sau lưng vẫn còn 1 điểm hơi
lạnh. Dùng phương
trên bỏ Tuyền Phúc Hoa, Tân Giáng, Hành, thêm Xuyên Quế chi 4g. Uống 5 thang.
Khám lại:
Các chứng trạng hoàn toàn khỏi. Cho dùng tiếp Hương sa Lục Quân Tử Thang (10 -
15 thang để
củng cố).
Bệnh án Dạ dày đau do Trung Tiêu Hư Hàn
(Trích trong
“ Thiên Gia Diệu Phương “)
Hách X, nữ,
32 tuổi, khám ngày 1. 3. 1976. Đã 4 ngày nay ói ra cá chất giống thịt nát, đau ở
Dạ dày đã 3 tháng. Ba tháng nay, cứ sau bữa ăn chiều thì ói, về đêm càng
nặng, ói ra nước chua, nước chua ra nhiều qúa làm ê răng. Dạ dày đau
trướng, lan đến vai lưng, chườm ấm thấy dễ chịu. Bốn ngày gần đây, ói ra chất
giống như thịt nát,mỗi lần 6 - 7 miếng màu hồng nhạt. Chụp X quang: 2 phổi bình
thường, Dạ dày có hình móc câu, nhu động chậm, trong Dạ dày thấy rõ
nước ứ đọng, niêm mạc Dạ dày thô, mờ, có thay đổi như cánh tuyết, hành tá
tràng không có gì đặc biệt.
Chẩn đoán:
Trung tiêu hư hàn, mất khả năng kiện vận, đàm ẩm thực tích (Dạ dày bị viêm).
Điều trị:
Ôn Trung, Tán Hàn, Kiện Tỳ, Hóa âm, thanh đạo, khai kết.
Xử phương:
Kiện Trung Tán Kết Thang gia giảm: Đảng sâm 40g, Phục linh 40g, Bạch truật
28g, Sơn tra (
sống) 60g, Nhục quế 12g, Đại hoàng 12g, Cam thảo 4g, Tô tử 8g, Táo 2 quả, Gừng
3 lát, Chỉ xác 12g, Qua lâu nhân 40g, Xuyên phác 12g, Ngọa lăng tử 40g, Đại
giả thạch 40g. Sắc uống ngày 1 thang.
Uống 6 thang,
lại ói ra hơn 10 cục ngưng kết của niêm dịch, đỡ ói chua, ăn uống được nhiều
hơn, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng trắng, mạch trầm. Đó là khí dương ở trung tiêu hồi
phục dần, đờm ẩm thực tích đã bớt nhiều. Tuy nhiên chính khí còn suy, tà khí
chưa hết.
Dùng bài
trên, bỏ Nhục Quế, Sơn Tra, Ngọa Lăng Tử, thêm Hoài Sơn 40g, Đương quy 20g, Sa
nhân 8g. Uống thêm 3 thang, các chứng khỏi hẳn.
*Hang Vị Viêm
(Vị Quản Thống do ứ huyết)
(Trích trong
“ Thiên Gia Diệu Phương “)
Phù X, nam,
37 tuổi. Đau vùng Dạ dày, nửa năm gần đây càng nặng. Đã dùng nhiều thuốc tây
nhưng không bớt. Chụp X quang thấy Hang vị bị viêm. Đau vùng Thượng vị bên phải,
vùng Dạ dày cảm thấy như có vật gì dội lên, táo bón, không ợ hơi, ợ chua, chất
lưỡi đỏ, mạch Tế Huyền.
Chẩn đoán:
Bệnh Dạ dày lâu ngày nhập vào lạc, kèm theo ứ huyết.
Điều trị:
Điều khí, hóa ứ
Xử phương:
Lý Khí Hóa Ứ Phương: Quảng mộc hương 8g, Đương quy 12g, Hương phụ (chế) 12g,
Xích thược 12g, Nguyên
hồ sách 12g, Bạch thược 12g, Chích thảo 6g, Kim linh tử 10g, Thanh bì, Trần bì
đều 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Uống 7 thang
,vùng Dạ dày đỡ đau nhưng vẫn còn cảm thất vật dội lên, đại tiện đã nhuận, chất
lưỡi đỏ, mạch vẫn Tế Huyền. Dùng bài trên, thêm Hồng hoa 6g, uống thêm 7
thang. Sau khi uống cảm thất vật dội lên giảm đi, trung tiện tăng lên, dễ chịu
hơn trước, đại tiện bình thường, ngủ tốt, lưỡi đỏ, mạch Tế còn Huyền. Dùng bài
trên, thêm Đan sâm 16g. Uống tiếp 7 thang nữa bịnh khỏi.
Cho thêm 7
thang bài thuốc sau để củng cố kết qủa: Mộc hương 8g, Toàn phúc ngạnh 12g, Hương
phụ (chế) 12g, Đương quy 12g, Đan sâm 16g, Chích thảo 6g,
Trần bì 12g,
Kê nội kim (nướng) 12g, Xích thược 12g, Bạch thược 12g, Thanh bì 16g.
Hang Vị viêm
thuộc phạm trù ‘ Vị Quản Thống ‘ của YHCT biện chứng chính là đau ở Dạ dày lâu
ngày, đau 1 chỗ nhất định. Chứng này không những là khí trệ gây ra đau mà đã
phát triển thành ứ tắc phần lạc của Vị... Trong bài dùng Mộc hương, Hương phụ,
Trần bì đều cay, thơm nên có tác dụng lý khí, Đương quy, Hồng hoa đều cay, nhu,
hòa huyết, làm cho khí cơ thông suốt, tiêu trừ ứ huyết, giảm các chứng trạng,
hết đau.
Bệnh án Dạ
Dày
Đau
Do
Khí
Trệ
(Danh Y Trình
Thiện Ân, Trung Y Học Viện Trường Xuân)
Lý X, nam, 45 tuổi, vùng Dạ dày đau tức, lúc nặng, lúc nhẹ, đã hơn 4
năm. Gần 1 tháng nay bịnh nặng lên,
vùng Dạ dày đau nhiều, miệng họng khô ráo, khát nhưng không muốn uống, ăn nhiều
thì đau tăng, ăn xong thì bụng trướng. Aên thức ăn cay, nóng thì đau nhiều,
chóng mặt, hai mắt khô, nhìn vật thấy mờ, ngũ tâm phiền nhiệt, sắc mặt vàng
úa, lưỡi hồng không có rêu, mạch Tế sác. Chứng này Dạ dày đau lâu ngày, Vị
dương bị tổn thương, không được nhu dưỡng, khí trệ lại gây ra đau. Dùng bài Bách
Hợp Lệ Luyện Ô Dược Thang gia giảm: Bách hợp
40g, Ô dược 16g, Xuyên luyện tử 20g, Lệ chi hạch 16g. Thêm Bạch thược, Cam thảo, Mạch môn, Sinh địa,
Ngọc trúc đều 16g, Sa sâm 20g, Mạch nha (sống) 30g. Sắc uống 3 thang, Dạ dày
bớt đau, các chứng đều giảm, chỉ còn táo bón, ngũ tâm phiền nhiệt. Dùng bài
trên, thêm Hồ hoàng liên, Ngân sài hồ, Địa cốt bì đều 16g. Uống tiếp 3 thang
nữa khỏi hẳn.
(Bách hợp
nhuận Phế dưỡng âm, giáng khí, Xuyên luyện tử sơ Can hành khí, Ô dược lý khí,
giảm đau, Lệ chi hạch (hạt Vải) trị vị hàn khí trệ gây đau).
|