|
| |
ÁP
XE GAN
(Can Ung -
Liver Abcess)
Đại Cương
Là những ổ mủ to hoặc nhỏ, nhiều hoặc ít, ở vào khoảng cửa ở
thành ống mật và huyết quản hoặc đã lan vào mô gan.
Chứng Can ung
đã được nhắc đến từ lâu trong sách Nội Kinh (thế kỷ thứ 2).
Thiên ‘Đại Kỳ
Luận’ (Tố Vấn 48) viết: “Chứng Can ung, hai bên hông sườn đầy, nằm xuống thì
kinh sợ, không tiểu được”, đây là những triệu chứng của áp xe gan.
Từ Nội Kinh
đến đời nhà Tống, đều ít bàn đến chứng Can ung. Đến sau đời nhà Tống, nhà Nguyên
chứng Can ung mới được bàn đến nhiều hơn.
Đời nhà Tống,
sách ‘Sang Dương Kinh Nghiệm Toàn Thư’ viết: “Tâm Can ung... ung do từ Tâm, Tâm
chủ hành huyết khí, huyết nhiệt làm huyết bị tổn thương ứ lại ở kinh lạc, đó là
chứng bệnh độc”, cho thấy chứng Can ung là chứng trong huyết có nhiệt độc làm
tổn thương kinh lạc, nhập vào Tâm, Can gây nên bệnh. Đời nhà Thanh, sách ‘Y Tông
Kim Giám’ viết: “Can ung do tình uất khí nghịch gây nên”. Sách ‘Biện Chứng Lục q
13’ viết: “Can, một khi tức giận thì lá gan phình lên, Can khí sẽ bị nghịch.
Giận dữ nhiều thì lá gan nở to, trống rỗng, khó bình phục. Tức giận thì hoả
động, giận nhiều thì hoả thịnh, hoả thịnh thì sẽ làm cho âm huyết bị khô, âm
huyết khô thì Can khí bị táo nhiều, huyết không nuôi dưỡng được Can khiến cho dễ
tức giận, khí tức giận gây nên tổn thương Can, uất kết lại gây nên chứng ung”
hoặc “Chứng Can ung không khỏi thì sinh ra tức giận, uất lại mà sinh ra ung
vậy”.
Có những biểu
hiện giống chứng Hiếp Thống của Đông Y.
Nguyên Nhân
+ Theo YHHĐ:
. Do amip và vi khuẩn xâm nhập vào gan qua một trong ba
đường: Động mạch, tĩnh mạch cửa và ống mật.
. Xuất phát từ
nhiễm khuẩn huyết, vi khuẩn qua động mạch gan xâm nhập vào gan, nhất là mặt gan
ngoài.
. Bắt nguồn từ
một áp xe ruột dư, một ổ mủ khác ở bụng, amip và vi khuẩn theo đường tĩnh mạch
cửa xâm nhập vào gan và thường trú ở thuỳ phải. Hoặc từ ống mật amip chạy vào
gan, phổ biến nhất vào thuỳ trái.
. Ở Việt Nam, đa số là loại áp xe gan do amip, áp xe gan –
ống mật.
+ Theo YHCT:
. Do Tình Chí Uất Kết: Can chủ sơ tiết, nếu Can khí bị
uất kết, khí nghịch làm cho huyết ứ trệ ở kinh Can lâu ngày hoá độc gây ra. Mộc
khắc Tỳ thổ, Tỳ mất chức năng kiện vận, sẽ sinh ra thấp nhiệt, ngừng trệ ở
Can Đởm lâu ngày sẽ sinh ra ung.
. Do Ăn Uống
Không Điều Độ: Thức ăn cao lương mỹ vị (nhiều chất béo), cay nóng, thức ăn
nướng... làm tổn thương trường vị, mất chức năng vận hoá, thuỷ thấp không vận
chuyển được, sinh ra thấp nhiệt ở bên trong, ứ kết lại ở Can Đởm. Khí huyết và
thấp, đờm cùng bị ngăn trở gây nên chứng Can ung. Sách ‘Mã Bồi Chi Ngoại Khoa Y
Án’ viết: ”Thích uống rượu, mỗi lần uống nhiều, rượu vào trong Vị sẽ làm cho gan
nở ra, Đởm bốc lên. Đởm bùng lên thì khí huyết không thông được, đờm trọc ở
trong vị sẽ tràn ra hai bên hông sườn. Đờm, khí, huyết hợp lại với nhau, kết lại
thành chứng ung”.
. Do Tổn Thương: dùng sức quá mức hoặc do té ngã tổn thương
làm cho lạc mạch bị ứ huyết, huyết ứ hoá ra nhiệt khiến cho huyết bị bại, huyết
nhục bị thối nát hoá ra mủ thành chứng ung.
. Do ôn độc
hoặc thấp nhiệt độc lâu ngày không giải trừ được, làm thương tổn tạng Can,
khiến cho khí huyết bị ứ trệ, huyết nhục bị thối nát hoá ra mủ (Nội Khoa Học
Thành Đô).
. Do biến
chứng từ một số bệnh khác như Trường ung (viêm ruột), giun đũa (giun chui ống
mật), do ký sinh trùng Amip (Entamoeba Histolytica) gây ra (vì vậy còn gọi là
Áp xe gan Amip), chứng kết hung phát vàng da hoặc sau khi giải phẫu mật, do viêm
nhiễm ở đường mật lan sang (gọi là Áp xe đường mật), tà độc lưu trệ, ứ ở bên
trong làm tổn thương Can mạch, uất lại gây nên.
Mã Bồi Chi
nhắc đến một số yếu tố gây bệnh như sau: “Đờm khí huyết trệ ứ ở Can lạc” – “Đàm
nhiệt nhập vào Can lạc”.
Triệu Chứng
Trên lâm sàng
bệnh thường diễn biến qua 3 giai đoạn:
1- Giai Đoạn Nung Mủ:
+ Chứng: Nóng lạnh thất thường, hạ sườn bên phải đau, ấn vào
đau hơn, không muốn nằm nghiêng, miệng khô, tiểu vàng, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng
trắng, mạch Huyền Hoạt. Giai đoạn này tương ứng với giai đoạn viêm của YHHĐ.
+ Biện Chứng:Can Đởm có quan hệ Biểu Lý vì vậy tà độc nhập
vào Can gây ra lúc nóng lúc lạnh. Can bệnh, khí cơ không thông, khí huyết
bị ứ trệ làm tổn thương huyết lạc khiến cho hạ sườn bên phải đau, không nằm
nghiêng được. Nhiệt tà làm hại tân dịch gây ra khát. Khí uất, huyết trệ, tam
tiêu thuỷ đạo không thông gây ra nước tiểu vàng. Rêu lưỡi trắng, vàng,
mạch Huyền Hoạt là dấu hiệu thấp nhiệt uất trệ ở Can.
+ Nguyên nhân: do Can uất hoá hoả hoặc huyết ứ hoá nhiệt,
thấp nhiệt nung nấu, ngưng kết ở Can Đởm lâu ngày gây nên.
2- Giai Đoạn
Thành Mủ:
+ Chứng: Lạnh run, sốt cao, ra mồ hôi, hông sườn đầy, đau,
đau lan đến bụng dưới hoặc nách, vai, miệng khát, tâm phiền, muốn nôn,
nôn, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác.
+ Biện Chứng: Tà chính giao tranh, mủ hình thành vì vậy gây
ra rét run, sốt cao, ra mồ hôi. Tà khí ngăn trở ở kinh lạc, khí huyết bị ứ trệ,
hoá thành mủ khiến cho Can tạng sưng trướng, hông sườn đau. Tạng và kinh Can bị
uất trệ không thông gây ra đau lan xuống bụng dưới hoặc lên nách, vai.
Nhiệt làm hại phần âm vì vậy gây ra khát, tâm phiền, nhiệt độc xâm nhập vào Vị.
Lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác là dấu hiệu nhiệt độc thịnh.
+ Nguyên nhân: do hoả độc mạnh, phần âm bị tổn thương, khí bị
tiêu, huyết bị tổn hại gây nên.
3- Giai Đoạn
Tiềm Phục
Chứng: hạ sườn phải hơi đau, miệng hơi khô, lưỡi hồng, rêu lưỡi ít, mạch Tế
Nhược.
Biện chứng: Tà độc nhập vào Can, làm cho khí huyết bị tổn
hại, nhiệt làm tổn thương phần âm khiến cho khí huyết đều hư, khí âm bất túc
biểu hiện bằng hông sườn bên phải đau, mỏi mệt không có sức, miệng khô, lưỡi đỏ,
ít rêu, mạch Tế Nhược.
Nguyên nhân: Do tà độc lâu ngày làm cho Vị âm bất túc,
Tỳ dương hư tổn, khí huyết đều suy.
Chẩn Đoán
Phân Biệt
Để người
bệnh nằm ngửa, đùi hơi co để làm giãn các cơ thành bụng, thầy thuốc ngồi bên
phải, luồn tay trái vào vùng thắt lưng, bàn tay ngửa áp sát vào lưng để đẩy gan
ra phía trước bụng khi gan to. Bàn tay phải đặt trên bụng, các ngón tay hơi
chếch so với bờ sườn. Bảo người bệnh thở mạnh, có thể sờ thấy bờ dưới của gan.
+ Gan to nhưng mềm và đều đặn là do bệnh của tim.
+ Gan lổn nhổn, bờ sắc là gan bị xơ.
+ Gan lổn nhổn, bờ tù có thể là áp xe gan đường mật và
ứ mật.
+ Khối u cứng có thể là ung thư gan.
+ Khối u mềm có thể là áp xe gan.
Sai lầm khi chẩn đoán phân biệt áp xe gan hơi khó vì thường
dựa theo các triệu chứng phụ và chẩn đoán:
. Thấy bệnh nhân sốt nên nghĩ đến sốt rét, phổi viêm.
. Thấy thể trạng suy kiệt nhanh nên nghĩ đến lao...
Điều Trị
1- Giai Đoạn Nung Mủ
Điều Trị:
Thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tán kết.
Sách ‘Nội Khoa Học Thành Đô’ dùng bài: Sài Hồ Thanh
Can Tán (Y Tông Kim Giám): Cam thảo (sống), Sài hồ, Chi tử, Sinh địa, Hoàng
liên, Thanh bì, Liên kiều, Xích thược, Long đởm thảo. Tán bột. Ngày uống 8-12g.
Gia Giảm: Hạ sườn phải đau: thêm Diên hồ sách, Mộc hương.
. Sốt: thêm Bồ công anh, Hạ khô thảo, Vương bất lưu hành.
. Táo bón thêm: Đại hoàng (sống), Mang tiêu.
2- Giai Đoạn
Thành Mủ
Điều Trị: Thanh nhiệt, giải độc, khứ hủ, bài nùng.
Sách ‘Nội Khoa Học Thành Đô’ dùng bài: Hoàng Liên Giải Độc
Thang (Ngoại Đài Bí Yếu): Chi tử 12g, Hoàng cầm 12g, Hoàng bá 8g, Hoàng liên
12g.
Thêm Sài hồ 8g, Bại tương thảo 8g, Ngư tinh thảo 20g, Đông
qua nhân 8g, Ý dĩ nhân 8g, Đào nhân 8g. Sắc uống.
* Gia Giảm:
. Nhiệt độc hoả thịnh xâm nhập vào Tâm bào gây ra hôn
mê, nói cuồng: thêm Ngưu Hoàng Thanh Tâm Hoàn hoặc Chí Bảo Đơn.
. Chính khí không thắng nổi tà khí, biểu hiện sắc mặt vàng,
gầy ốm, tinh thần uỷ mị, mồ hôi tự ra: thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đương qui.
. Ho ói ra mủ, máu, áp xe bị vỡ: thêm Triết bối mẫu, Cát
cánh.
. Tiêu ra mủ, máu: thêm Bạch đầu ông, Tần bì.
. Muốn nôn, nôn: thêm Tử diệp (lá Tía tô), Hoàng liên.
Tiêu Viêm
Thập Tam Vị Phương (Giang Tây Trung Y Dược 1, 1983): Kim ngân hoa
24g, Liên kiều, Bồ công anh đều 12g, Tử hoa địa đinh 15g, Bản lam căn 18g (hoặc
Đại thanh diệp 12g), Xích thược, Đại du (sinh) đều 12g, Liên kiều 6g, Hoàng cầm
12g, Hoàng bá 9g, Đại hoàng (sống), Hoạt thạch đều 12g, Mộc thông 6g. Sắc uống,
ngày một thang, chia làm 3 lần uống.
TD: Thanh
nhiệt, giải độc, thông phủ, tiết nhiệt, lương huyết, hoạt huyết. Trị áp xe gan,
đinh nhọt lở loét.
(Đây là bài
Ngũ Vị Tiêu Độc Ẩm, Ngân Kiều Tán hợp với Hoàng Liên Giải Độc Thang gia giảm.
Các chứng do hoả nhiệt độc mới phát gây nên, các chứng ung nhọt trong hoặc
ngoài, tuỳ chứng mà dùng bài này gia giảm cho phù hợp, có hiệu quả cao).
3- Giai Đoạn
Tiềm Phục
Điều Trị
: Ích khí, dưỡng huyết, giải độc.
Sách ‘ Nội Khoa Học Thành Đô’ dùng bài Thánh Dũ Thang (Tỳ Vị
Luận): Bạch thược 30g, Nhân sâm 30g, Đương qui 20g, Hoàng kỳ 20g, Xuyên
khung 30g, Thục địa 30g.
Thêm Bại tương
thảo 20g, Bồ công anh 30g.
Sắc uống
Gia Giảm:
. Lưỡi hồng, ít nước miếng: thêm Thiên hoa phấn, Ngọc
trúc.
. Bụng dưới trướng: thêm Cốc tinh thảo, Kiến khúc.
Đi sâu vào chi
tiết bệnh chứng, sách ‘Trung Y Cương Mục’ giới thiệu 5 loại Can ung như sau:
1- Can Uất Hoá
Hoả: Phát bệnh nhanh, vùng hông sườn sưng đỏ, đau, không thích ấn vào, không nằm
xuống được, sốt, sợ lạnh, miệng đắng, khô, hay cáu gắt, chóng mặt, mắt đỏ, lưỡi
đỏ, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch Huyền Sác.
Điều Trị: Sơ
Can, giải uất, thanh nhiệt, tả hoả. Dùng bài Sài Hồ Thanh Can
Thang: Sài hồ, Đương quy, Xuyên khung, Xích thược, Sinh địa, Liên kiều,
Ngưu bàng
tử, Hoàng cầm, Chi tử, Thiên hoa phấn, Phòng phong, Cam thảo.
(Sài hồ sơ
Can, giải uất; Hoàng cầm, Chi tử hợp với Sài hồ để thanh Can, tả hoả; Sinh địa,
Đương quy tư âm, dưỡng huyết, nhu Can; Xuyên khung, Xích thược hành khí, hoạt
huyết; Thiên hoa phấn, Phòng phong, Ngưu bàng tử, Liên kiều, cam thảo giải độc,
tiêu ung).
Gia giảm: Can hoả nhiều
thêm Hạ khô thảo, Long đởm thảo, Kim ngân hoa để thanh Can, tả hoả; Hông sườn
đau thêm Huyền hồ, Uất kim để hoạt huyết, chỉ thống. Váng đầu, hoa mắt thêm Cúc
hoa, Tang thầm để thanh Can, minh mục. Miệng khô, khát thêm Thạch hộc, Sa sâm,
Mạch môn để sinh tân, chỉ khát.
2- Thấp Nhiệt
Uẩn Kết: Hông sườn đau tức,miệng đắng, họng khô, ăn uống ít, lúc nóng lúc lạnh,
nước tiểu vàng đục hoặc đỏ, sít, táo bón, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch Huyền
Hoạt hoặc hoạt Sác.
Điều trị: Sơ
lợi Can Đởm, thanh nhiệt, lợi thấp.
Dùng
bài Long Đởm Tả Can Thang (Hoà Tễ Cục Phương): Cam thảo, Đương quy, Hoàng cầm,
Long đởm thảo, Mộc thông, Sài hồ, Sinh địa, Sơn chi, Trạch tả, Xa tiền tử.
(Long
đởm thảo tả thực hoả ở Can Đởm, thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu; Hoàng cầm, Chi tử,
Sài hồ vị đắng, tính hàn, để tả hoả; Xa tiền tử, Mộc thông, Trạch tả thanh lợi
thấp nhiệt, làm cho thấp nhiệt thoát ra qua đường tiểu; Sinh địa, Đương quy để
lương huyết, ích âm; Cam thảo điều hoà các vị thuốc.
Gia giảm: Thấp
nhiều thêm Nhân trần, Khổ sâm để thanh nhiệt, hoá thấp. Nhiệt nhiều thêm Ngân
hoa, Liên kiều, Bồ công anh để thanh nhiệt, giải độc. Bụng đau thêm Uất kim,
Huyền hồ, Thanh bì để hành khí, hoạt huyết, chỉ thống. Hạ sườn có khối u thêm
Xích thược, Tạo giác thích để hoạt huyết, thông lạc, tán kết. Ăn uống khó tiêu
thêm Phục linh, Trần bì để tỉnh Tỳ, hỗ trợ việc vận hoá thức ăn. Táo bón thêm
Đại hoàng (sống) để tả hạ, thông tiện.
3- Đờm Trọc
Trở Kết: Hông sườn đau, hạ sườn sưng đau, ấn vào đau hơn, khó thở, ho có đờm,
ngực và hông sườn đầy tức, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch huyền Hoạt.
Điều trị: Hoá
đàm, tán kết, hoạt huyết, thông lạc.
Dùng bài Sơ
Uất Địch Đàm Thang: Hương phụ, Uất kim, Bán hạ, Trúc nhự, Quát lâu nhân, Phật
thủ, Phục linh, Chỉ xác, Tô ngạnh, Tam thất, Đương quy, Quất hồng.
(Uất kim, Hương phụ sơ Can,
hành khí; Trúc nhự, Bán hạ, Quát lâu nhân táo thấp, hoá đờm; Phật thủ, Chỉ xác,
Quất hồng, Tô ngạnh hành khí, hoá đờm, khoan hung, khai uất; Phục linh kiện Tỳ,
lợi thấp, hoá đờm; Đương quy, Tam thất hoạt huyết, hoá ứ, chỉ thống).
Gia giảm: Đờm trọc nhiều,
khí cơ bị ngăn trở, phiền muộn thêm Đởm tinh, Trúc lịch, Trần bì để hoá đờm,
hành khí. Tỳ Vị không vận hoá được thức ăn thêm Bạch truật, Thần khúc, Khấu nhân
để kiện Tỳ, trợ vận. Hông sườn cứng đau thêm Xích thược, Xuyên sơn giáp (sao),
Đào nhân, Tạo giác thích để hoạt huyết, tán kết, chỉ thống.
4- Khí Trệ
Huyết Ứ: Hông sườn đau, đau lâm râm hoặc đau như kim đâm, ấn vào đau hơn, chuyển
động khó, không có nóng lạnh, lưỡi có vết ban tím ứ huyết, mạch Huyền Sáp.
Điều trị: Hoạt
huyết, hoá ứ, hành khí, thông lạc.
Dùng bài Thanh
Can Hoạt Lạc Thang (Thanh bì, Uất kim, Đào nhân, Tân giáng, Trạch lan, Tam thất,
Xích thược, Đương quy, Tô ngạnh, Chỉ xác, Ngoạ lăng tử.
(Uất kim hành khí, giải uất, tán kết; Xích thược, Đào nhân, Tân giáng hoạt
huyết, hoá ứ, thông lạc; Tam thất hoạt huyết, tiêu thủng, chỉ thống; Chỉ xác, Tô
ngạnh lý khí, hành trệ; Đương quy hoạt huyết, bổ huyết; Ngoạ lăng tử nhuyễn
kiên, hoá đờm, tán kết, hành ứ, chỉ thống).
Gia giảm: Đau
như kim đâm thêm Nhũ hương, Một dược để hoạt huyết, phá ứ, chỉ thống. Bụng đau
thêm Mộc hương, Nguyên hồ, Xuyên luyện tử để hành khí, chỉ thống. Vùng sưng cứng
thêm Tạo giác thích, Xuyên sơn giáp để phá ứ, tán kết.
5- Tà Ủng Thể
Hư: Da tại chỗ sưng đỏ, to, hông sườn căng to như cái trống, ấn vào đau như kim
đâm nhưng lại mềm, cơ thể gầy ốm, sắc da vàng úa, tinh thần uể oải, ăn uống kém,
họng khô, khát, lưỡi đỏ, rêu lưỡi sạch, mạch Sác mà Tế. Hoặc tay chân lạnh, nằm
xuống thì đổ mồ hôi, lỵ phân mủ máu, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, Mạch Trầm Tế mà
Nhược.
Điều trị: Bổ ích khí huyết,
thác lý bài nùng.
Dùng bài Thác
Lý Tiêu Độc Tán: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Đương quy, Bạch
thược, Xuyên khung, Kim ngân hoa, Bạch chỉ, Cát cánh, Tạo giác thích, Cam thảo.
(Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Hoàng kỳ ích khí, kiện Tỳ; Đươgn quy, Xuyên
khung, Bạch thược dưỡng huyết, hoà doanh; Kim ngân hoa thanh nhiệt, giải độc;
Bạch chỉ, Cát cánh tán kết, bài nùng; Tạo giác thích phá kết, tiêu thủng; Cam
thảo điều hoà các vị thuốc.
Gia giảm: Mủ
không giảm thêm Đông qua nhân, Bại tương thảo, Ngư tinh thảo, Ý dĩ nhân (sống)
để thác lý, bài nùng. Bụng đau, lỵ mủ máu thêm Bạch đầu ông, Mã xỉ hiện để giải
độc, chỉ lỵ. Nếu mủ vỡ ra làm cho Vị âm bị tổn thương, thêm Thạch hộc, Thái tử
sâm, Mạch môn để ích khí, dưỡng âm.
Biến Chứng
+ Nếu phát
hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng cách, bệnh sẽ phục hồi nhanh.
+ Nếu không
điều trị đúng hoặc kịp thời, gan sẽ biến thành ổ mủ to, có khi chứa trên 2~3 lít
mủ mầu sô cô la, tanh, không thối.
+ Bệnh nhân có
thể cầm cự trong một thời gian khá dài nhưng sức khoẻ ngày càng suy kiệt.
+ Áp xe sẽ
tiến triển và gây ra các biến chứng: rò vào cơ hoành, màng phổi, phổi, vỡ vào
màng bụng, rất nguy hiểm, tử vong cao.
Y Án Áp Xe
Gan Do Vi Khuẩn
(Trích trong
‘Thiên Gia Diệu Phương’)
Hoàng X, nam,
bộ đội, 25 tuổi. Sốt cao 39-400C, sườn bên phải đau, bụng đầy, ăn không ngon,
muốn nôn, gan sưng to, ấn vào đau. Siêu âm thấy trên đường dọc đi qua điểm giữa
xương đòn có hai mặt bằng nước ở gian sườn 6 và 7. mặt bằng thứ nhất rộng 1,5cm,
sâu dưới da 3cm, mặt thứ hai rộng 1cm, sâu dưới da khoảng 4,5cm. Khoa nội chẩn
đoán là áp xe gan, chuyển sang khoa ngoại. Sau khi tiêm nhiều kháng sinh ở khoa
nội và khoa ngoại, thân nhiệt hạ xuống 380C, các chứng khác hơi biến chuyển. Dựa
vào bệnh chứng, khoa nội và ngoại hội chẩn quyết định tạm hoãn không mổ, theo
dõi điều trị. Vẫn truyền kháng sinh vào tĩnh mạch nhưng sau 3 ngày thân nhiệt
không hạ, các chứng cũng không bớt, vì vậy chuyển sang khoa Đông y.
Dựa vào mạch
Huyền Sác, rêu lưỡi dầy, kém nhuận, chất lưỡi đỏ.
Chẩn đoán là
chứng Can ung do tà uẩn, huyết ứ, thối nát thành mủ.
Điều trị: Sơ
Can, giải độc, bài nùng, hoá hủ. Dùng bài Đại Sài Hồ Thang và Sài Hồ Thanh
Can Thang: Sài hồ, Mộc hương, Tam tiên (sinh) đều 9g, Bồ công anh, Hoàng
cầm, Khổ sâm, Nhân trần, Liên kiều, Xích thược đều 15g, Bản lam căn 30g, Xuyên
quân, Cam thảo đều 6g. Sắc uống ngày một thang.
Uống 6 thang
thì thân nhiệt hạ xuống còn khoảng 37,50C, ăn được nhiều hơn, bụng đỡ đầy. Uống
thêm 6 thang nữa, thân nhiệt bình thường, các chứng đều hết. Kiểm tra siêu âm
không thấy có chất dịch ở hai chỗ cũ. Uống thêm 6 thang nữa, khỏi bệnh, xuất
viện”.
Y Án Áp Xe
Gan Do Amip
(Trích trong
‘Thiên Gia Diệu Phương’)
“Chu X, nam,
38 tuổi, công nhân. Sơ chẩn ngày 16-2-1976. bệnh nhân đã từng được chọc gan 6
lần ở một bệnh viện, lấy ra 1 lít chất mủ mầu nâu. Chẩn đoán xác định là áp xe
gan do amip. Đã sử dụng Emetin, Chloroquin điều trị 10 ngày, bệnh không chuyển,
chuyển đến bệnh viện để điều trị.
Khám thấy thân
nhiệt 40,30C, bạch cầu 19.600/mm3, tế bào trung tính 81%, tế bào lympho 19%.
Siêu âm thấy gian sườn 7 từ đường nách trước đến đường nách giữa thấy một mặt
bằng nước khoảng 2cm, đường kính 4,5 x 6,5cm. X quang thấy cơ hoành bị đẩy lên
cao, hoạt động bị hạn chế, hình của gan to, gian sườn 7-8 bên phải có thể thấy
mặt bằng nước dài 2,5cm. Khám Đông y thấy sốt cao kéo dài không hạ, sườn bên
phải đau, thở vào càng đau hơn, khát, thích uống, ăn ít, bụng đầy, khí của phủ
tạng không thông, nước tiểu vàng, đỏ, mạch Huyền Sác, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi
vàng bẩn. Bệnh nhân cho biết bệnh phát sau khi gặp lạnh, đến nay đã hơn nửa
tháng. Bệnh do thấp nhiệt ẩn náu kết ở tạng phủ, trùng độc làm thành ung. Điều
trị: phải thông phủ, tiết độc, thanh nhiệt, trừ thấp, sát trùng, tiêu ung.
Điều trị theo
hai bước: Trước tiên dùng bài Phan Tả Diệp Ẩm: Phan tả diệp 12g, hãm với nước
sôi, để nguội, bỏ bã, uống hết một lần. Uống thuốc xong ngay hôm đó đại tiên ra
phân rất thối, rồi sốt hạ.
Sau đó dùng
bài Sát Trùng Tiêu Ung Thang: Khổ sâm phiến, Thổ phục linh, Xích thược, Nhân
trần đều 15g, Ngư tinh thảo, Liên kiều, Kim ngân hoa đều 12g, Đạm tử linh 10g,
Cam thảo (sống) 5g. Sắc uống ngày một thang. Uống 4 thang, ngày 21-2 khám lại,
các triệu chứng đã hết, mạch Huyền, Tế, lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi hơi vàng. Thuốc
đã trúng bệnh, cho uống tiếp 4 thang nữa để củng cố kết quả. Sau khi uống thuốc,
siêu âm, X quang, xét nghiệm máu lại, thấy đều bình thường. Chọc gan không hút
được gì cả. Tháng 8-1978 hỏi lại, không thấy tái phát.
|