|
| |
ÂM NANG HUYẾT
THỦNG
Vùng âm nang
có huyết ứ lại sưng lên, gọi là Âm Nang Huyết Thủng.
Thuộc chứng
Huyết Sán của Đông Y.
Do vùng âm
nang bị trực tiếp tổn thương gây nên, hoặc do ngoại thương làm cho huyết ứ lại
gây nên.
Sách ‘Thọ Thế
Bảo Nguyên’ viết: “Ngoại thận, do lao tổn bị thương, dịch hoàn một bên sưng to,
có khí đau, bên trong có ứ huyết, gọi là Huyết Sán”.
Thuộc chứng
‘Ngoại Thương Tính Âm Nang Huyết Thủng’.
Nguyên Nhân
Đường Dung
Xuyên, trong ‘Huyết Chứng Luận – Điệt Đả Huyết’ viết: “Té ngã gây rách da,
huyết bị tổn, gân cơ bị tổn thương thì bị đau”…
Thường có thể
do:
+ Té Ngã Tổn
Thương: Vùng âm nang bị tổn thương do té ngã, đánh đập… khiến cho huyết bị tổn
thương, máu ứbtích tụ lại ở bìu dái, gây nên bệnh.
+ Sau Khi Bị
Thương Chảy Máu: Vùng bìu dái hoặc háng bị rách, chảy máu, không cầm máu được,
máu chảy ra thấm vào bên trong bìu dái gây nên bệnh.
Triệu Chứng
+ Xuất Huyết Ứ
Huyết: Bìu dái sưng to, xệ xuống, da bìu dái mầu đỏ tím tối hoặc có từng mảng
đen như vết ứ huyết. Nếu tổn thương nhẹ, chỗ sưng co lại, đau, xệ xuống. Nếu
nặng thì cứng thành khối u, đau chói.
Điều trị: Chỉ
huyết, hoá ứ, tiêu thủng, chỉ thống. Dùng bài Thập Khôi Tán hợp với Hoa Nhuỵ
Thạch Tán: Đại kế, Tiểu kế đều 15g, Hà diệp, Trắc bá diệp (tro), Mao căn
(tro) đều 6g, Tây thảo căn, Đại hoàng (tro), Chi tử, Tông lư bì (tro), Mẫu đơn
bì, Hoa nhuỵ thạch đều 10g. Sắc uống.
(Đại hoàng,
Đơn bì, Chi tử hoạt huyết, hoá ứ, thanh nhiệt, lương huyết để dưỡng huyết, hoá
nhiệt; Đại kế, Tiểu kế, Hà diệp, Trắc bá, Mao căn, Tây thảo căn, Tông lư bì là
những vị thuốc chỉ huyết; Hoa nhuỵ thạch là thánh dược để chỉ huyết, hoá ứ.
Huyết cầm lại, ứ được khứ thì sẽ hết đau).
Nếu bìu dái
sưng trướng đau lâu ngày không giảm, mà lại phát sốt đó là do huyết bị hoại tử
hoá thành nhiệt, có thể thêm Bồ công anh, Kim ngân hoa, Hoàng bá, Ngư tinh thảo,
Bạch hoa xà thiệt thảo để thanh nhiệt, hoá độc.
Nếu bìu dái
sưng đau, chưa giảm mà chảy máu không cầm, dùng bài trên, bỏ Đại kế, Tiểu kế,
Trắc bá diệp, Tông lư bì là những thuốc cầm máu, thêm Đương quy, Xích thược,
Xuyên khung, Hồng hoa để hoạt huyết, hoá ứ (Trung Y Cương Mục).
Thuốc Trị Ngoài
. Dùng Điệt Đả Hoàn hoà với rượu, bôi vùng bệnh (Trung Y Cương Mục).
. Sau khi hết chảy máu, dùng Mang tiêu, sao nóng, bọc vào vải chườm, mỗi lần
khoảng 30 phút (Trung Y Cương Mục).
. Nếu bị tổn thương mà dịch hoàn không bị rách dùng Như Ý Kim Hoàng Tán đắp
(Trung Y Cương Mục).
+ Ứ Huyết Kết Tụ: Âm nang sưng đau, có thể sờ thấy phía trong bìu dái có khối ú,
ấn vào đau, nặng, cứng không bớt, càng lúc càng sưng to.
Điều trị: Hoạt
huyết, hoá ứ, thông lạc, tán kết. Dùng bài Phục Nguyên Hoạt Huyết Thang phối hợp
với Hoạt Lạc Hiệu Linh DDơn: Sài hồ, Nhũ hương, Một dược, Cam thảo, Đào nhân đều
6g, Thiên hoa phấn, Đương quy, Hồng hoa, Đan sâm đều 10g, Xuyên sơn giáp 15g,
Đại hoàng (thục) 3~5g. Sắc uống.
(Đương quy,
Hồng hoa, Đan sâm, Đào nhân, Nhũ hương, Một dược dưỡng huyết, hoạt huyết, khứ ứ,
sinh tân; Xuyên sơn giáp phá ứ, thông lạc; Đại hoàng khu trừ bại huyết; Thiên
hoa phấn nhuận táo, tán kết; Cam thảo hoãn cấp chỉ thống; Sài hồ sơ Can, hoà
huyết.
Nếu bìu dái
sưng cứng khó tan, thêm Thuỷ điệt để phá huyết, trục ứ. Thêm Mẫu lệ (sống) để
nhuyễn kiên, tán kết. Nếu có dấu hiệu khí hư, thêm Hoàng kỳ để ích khí. Nếu vùng
bìu dái lạnh, thêm Tiểu hồi, Nhục quế để ôn kinh.
|