|
Cây
cỏ để ăn, cây cỏ có độc, cây cỏ làm thuốc một ranh giới
khó phân biệt rõ ràng, vì tuỳ theo cơ thể mà chiụ được
liều cao hay thấp, tuỳ theo khí hậu, đất đai hoạt chất có ít
hay nhiều mà tăng hay giảm độ độc đối với cơ thể.
Theo kinh nghiệm tích
luỹ từ đời này sang đời khác trong việc sử dụng cây cỏ
dẫn đến việc phân loại cây cỏ, nhằm sắp xếp những kinh
nghiệm đó lại thành hệ thống, làm một quy luật dự đoán
cho những cây cỏ mà người chưa biết đến.
Mỗi sự phân loại
đều dựa trên quy luật chung. Ðược thịnh hành trong thời kỳ
tiến hành phân loại và tất nhiên sẽ được bỏ qua sau đó
với sự phát triển của khoa học.
Ðiểm qua các cách phân
loại được vật từ trước đến nay, có thể có mấy cách
sau đây:
a) Phân theo các học thuyết âm dương, ngũ hành và bát
pháp.
b) Phân theo dược lý
đông dương.
c) Phân theo đặc điểm
thực vật, dược liệu.
d)
Phân theo dược lý trị liệu kết hợp Ðông - Tây y.
I - PHÂN THEO HỌC
THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH, BÁT PHÁP:
1.
Phân theo thuyết âm dương:
Thuốc chia thành phần:
Âm
dược: Có tính trầm, giáng lạnh, mát, mặn, chua, đắng để
trị dương chứng.
Dương
dược: Có tính phù, thăng, nóng, ấm, nhạt, cay, ngọt, để trị
âm chứng.
2.
Phân theo thuyết ngũ hành:
Người
xưa có đã quy nạp các vị thuốc vào từng hành một rồi vận
dụng tính chất đó trong điều trị và tìm thuốc theo bảng tóm
tắt dưới đây:
|
NGŨ
HÀNH
|
MỘC
|
HOẢ
|
THỔ
|
KIM
|
THUỶ
|
|
Màu
sắc
Mùi
vị
Tác
dụng lên ngũ tạng
Tác
dụng lên lục phủ
|
Xanh
Chua
Can
Ðởm
|
Ðỏ
đắng
Tâm
Tiểu
trường
|
Vàng
Ngọt
Tỳ
Vị
|
Trắng
Cay
Phế
Ðại
trường
|
Ðen
Mặn
Thận
Bàng
quang
|
Trên
cơ sở quy nạp theo bảng trên đây, sự phân loại các vị
thuốc được giải thích như sau:
- Về màu sắc của cây
thuốc, người ta cho rằng những vị thuốc màu xanh đi vào can,
màu đỏ trị huyết, trị tâm, màu vàng trị tiêu hoá, màu trắng
trị phế, màu đen trị thận. Nhưng đó cũng là kinh nghiệm giản
đơn, có cái đúng cũng có cái khó vận dụng.
-
Về mùi vị thì được Ðông y rất chú trọng, coi đó là một
chỉ tiêu dược lý cần phải lưu ý, thông qua vị giác mà nhận
thấy.
.
Vị cay:
Có tác dụng chữa các bệnh thuộc phần biểu, làm
ra mồ hôi, chữa khí huyết ngừng trệ, làm tán phong hàn (
Tiá tô, kinh giới ) làm giảm đau, chống co thắt, làm hoạt
huyết, tiêu ứ ( Xuyên khung, Bạch chỉ ).
.
Vị ngọt: Có tác dụng bổ dưỡng, để chữa các chứng hư
( Thục điạ, Mạnh môn ) làm bớt độc tính của thuốc hay giải
độc cơ thể ( Cam thảo ), hào hoãn cơn đau ( Mạch nha, mật ong
), nhất là cơn đau dạ dày.
.
Vị đắng:
Có tác dụng chỉ tả vào táo thấp ( làm giảm
tiết xuất ), dùng trong chứng thấp
nhiệt ( Hoàng đằng, Hoàng liên ).
.
Vị chua:
Có tác dụng thu liểm, cố sáp ( chống tiết xuất
làm khô ) Ðể chữa chứng ra mồ hôi, cố tinh, sáp - niệu
( Ngũ bội tử, Ômai ).
.
Vị mặn:
làm mềm các chất ứ động, táo kiết ở ruột (
Mang tiêu, muối ) làm tẩy xổ.
.
Vị đạm:
( không vị ) Ý Dĩ , Hoạt thạch có tác dụng lợi
niệu.
. Theo cảm giác của
người bệnh mà xác định tính năng của thuốc.
.
Uống vào thấy lạnh là thuốc hàn, thấy nóng gọi là thuốc
nhiệt, thấy ấm gọi là thuốc ôn, thấy mát gọi là lương.
Ngoài ra, bệnh nhân
còn có 4 cảm giác khi uống thuốc vào, và căn cứ vào nó
để xác định tính năng cuả thuốc đó là: Thăng đi lên, giáng
đi xuống, phù là phát tán ra bên ngoài, trầm là thấm lại
vào bên trong và xuống dưới.
3.
Phân theo bát pháp:
Ở một mức độ tiến
bộ hơn, thuốc được phân loại theo 8 tác dụng chủ yếu: thường
được sử dụng trong 8 cách điều trị bệnh gọi là bát pháp:
-
Thuốc hản: có tác dụng giải biểu làm cho ra mồ hôi và còn
được chia làm hai nhóm nhỏ:
Tân ôn giải biểu - Tân lương
giải biểu.
-
Thuốc thanh: có tác dụng làm mát mỗi khi có chứng sốt do
viêm nhiễm, được chia làm ba nhóm:
- Thanh nhiệt tả hoả
-
Thanh nhiệt giải
độc
-
Thanh nhiệt lương huyết.
-
Thuốc ôn:
được sử dụng trong các chứng: Lạnh ở tỳ
vị, lạnh do suy sụp tuần hoàn.
-
Thuốc tiêu:
Ðược sử dụng trong các chứng có cục, có
hòn nổi lên khác thường, là những loại thuốc tiêu viêm,
tiêu ứ, tiêu đạo, hoá tích.
-
Thuốc thổ:
những loại thuốc làm cho nôn mữa để tống
tháo các chất trong dạ dày.
-
Thuốc hạ:
có tác dụng tẩy xổ, được sử dụng trong các
chứng táo bón.
-
Thuốc hoà:
để diều hoà nóng, lạnh, thường gặp trong các
cơ thể sốt rét lâm sàng hoặc bệnh bán biểu bán lý.
-
Thuốc bổ:
dùng để bồi bổ cơ thể, có 4 loại bổ khí, bổ
huyết, bổ âm, bổ dương.
II - PHÂN THEO DƯỢC
LÝ CỔ TRUYỀN ÐÔNG PHƯƠNG:
1.
Phân theo Thần nông Bản thảo:
Thần
Nông Bản Thảo ghi chép được 365 vị thuốc, do kinh nghiệm sử
dụng, được phân làm ba loại
chủ yếu tuỳ theo độc tính:
- Thuốc thượng phẩm:
các dược liệu có tác dụng mà không có độc.
- Thuốc trung phẩm: các
dược liệu có tác dụng nhưng cũng không có độc.
- Thuốc hạ phẩm: các
dược liệu có tác dụng nhưng rất độc.
2. Phân theo tác dụng
dược lý:
( lôi công bào chế ).
Người ta chia các vị
thuốc ra làm 10 loại chủ yếu:
- Thuốc bổ: các dược
liệu chữa suy yếu.
- Thuốc tuyên: chữa
ngăn, uất.
- Thuốc thông: chữa
ứ, trệ
- Thông tiết: chữa chưng bế
- Thuốc kinh: chữa các chứng thực
- Thuốc trọng: chữa
chứng khiếp sợ, bất an.
- Thuốc sáp: chữa chứng
thoát, lỏng.
- Thuốc hoạt: chữa chứng táo, kết.
- Thuốc táo: chữa chứng ẩm thấp.
- Thuốc thấp: chữa chứng khô táo.
3.
Phân theo nguồn gốc dược liệu: ( Lý Thời trân - nhà minh
) chia dược ra làm 16 bộ:
-
Bộ thuỷ
- Bộ Hoả -
Bộ Thổ
- Bộ Kim
-
Bộ thạch
- Bộ Thảo -
Bộ Mộc
- Bộ Cốc
-
Bộ Thái
- Bộ Quả -
Bộ Phụ
- Bộ Trùng
-
Bộ Giới
- Bộ Lân -
Bộ Cầm
- Bộ Thú
Mỗi
Bộ Chia Làm Nhiều Loại Như Bộ Thảo:
-
Sơn Thảo ( Cỏ Ở Núi )
- Hương Thảo ( Cỏ Mùi Thơm )
-
Thấp Thảo ( Cỏ Nơi Ẩm Thấp )
- Ðộc
Thảo ( Cỏ Có Ðộc )
-
Mạn Thảo ( Cỏ Mọc Leo )
- Thuỷ Thảo ( Cỏ Mọc Dưới Nước )
-
Thạch Thảo ( Cỏ Mọc Trên Ðá )
-
Thái ( Rêu ).
-
Tạp Thảo ( Cỏ Mọc Linh Tinh ).
4. Phân loại theo dược
lý trị liệu:
( Tuệ tỉnh Thiền sư )
Tuệ
Tỉnh đã xây dựng bản thảo thuốc nam gồm 500 vị, phân loại
vừa theo tính dược, vừa theo nguồn dược liệu.
VD: Thuốc giải cảm
cho ra mồ hôi.
Bạc hà là loại cỏ mọc hoang vị cay tính ấm.
Ngoài
ra, Tuệ Tỉnh còn sắp xếp 222 loại dược liệu nguồn động vật,
thực vật để làm thức ăn, trị bệnh bao gồm:
-
Loại Ngũ Cốc Và Hạt
- Loại Củ
-
Loại Rau
- Loại Quả
-
Loại Cỏ May
-
Loại Chim Trời
-
Loại Chim Nước
- Loại Thú
-
Loại Cá
- Các Loại Khác Như: Ếch, Nhái, Cóc.
III - PHÂN THEO ÐẶC ÐIỂM
THỰC VẬT DƯỢC LIỆU:
Ngày
nay theo Sự tiến triển của ngành hoá học, thực vật, cây cỏ
làm thuốc được xếp theo họ thực vật, kết hợp với thành
phần hợp chất, có tính sinh học chủ yếu có chứa trong từng
loại.
VD: Họ ngũ gia bì (
Araliaceae ) chưá nhiều Saponin.
Họ á phiện ( papa veraceae ) chứa nhiều Ancaloit.
Hoạt
tính sinh học của một cây là do thành phần hoạt chất mà nó
có, vì thế ngày nay tính chất dược lý và thành phần hoá
học của cây thuốc không thể tách rời nhau.
Mỗi
hoạt chất có tính chất dược lý riêng, trong một cây có
khi lại có nhiều hoạt chất, ở tỷ lệ khác nhau, do đó mà
tác dụng không giống nhau, nếu như dùng cây toàn phần. Từ
đó người ta chủ trương triết lấy hoạt chất để dễ có một
tác dụng hằng định, sử dụng dễ dàng trong lâm sàng tuỳ
theo liều lượng yêu cầu. Tác dụng dược lý theo thành phần
hoạt chất trên khắp thế giới, làm cho việc sử dụng cây
cỏ làm thuốc có cơ sở khoa học hơn.
Ðại khái có một số hoạt chất căn bản như sau:
-
Ancaloit
- Glucozit
-
Flamonzit
- Cumarin
-
Acid Nhân Thơm
- Anthraglucozit
- Tanin
-
Saponin
- Tinh Dầu -
Dầu Béo
- Vitamin
Ngày nay nhiều nước sử dụng dưới dạng hoạt chất
toàn phần không đi vào hoạt chất trích ly tinh khiết để
đở tốn kém, nhưng cũng cho phép định lượng được dễ dàng,
vì đã loại bỏ được những thành phần khác không cần
thiết.
Nhưng
cũng có một số tác giả chủ trương ly trích hoạt chất tinh
khiết có hàm lượng cao để sử dụng, còn đối với các
hoạt chất có hàm lượng thấp nhưng hoạt tính sinh học cao. Người
ta hy vọng nghiên cứu cấu trúc hoá học của hoạt chất để
tổng hợp hoặc bán tổng hợp.
Tuy
thế, vẫn còn nhiều người ưa chuộng, dùng cây cỏ toàn phần,
dùng tươi hoặc khô, dưới dạng sắc, dạng trà.
IV - PHÂN THEO DƯỢC LÝ
TRỊ LIỆU:
Ðây
là cách phân chia theo tính dược, theo kinh nghiệm cổ truyền đã
được xác minh phần nào trên cơ
sở khoa học về dược lý, hoá học, xếp theo yêu cầu điều
trị hiện nay, làm thành từng nhóm gần giống như thuốc Tây y
như: thuốc hạ nhiệt, thuốc tẩy
xổ, thuốc nhuận gan mật, thuốc ho, thuốc long đờm .. để
tiện cho Cán bộ Tây y sử dụng cây cỏ làm thuốc theo yêu
cầu dược lý trị liệu hiện nay.
Xem
tiếp
|