|
DƯỢC LUẬN:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN DƯỢC
LIỆU TRONG ÐÔNG Y:
Từ thời
nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong quá trình lao động, sản
xuất, đấu tranh với thiên nhiên, đã phải tự tìm thức ăn,
thức uống để sống. Trong quá trình đó có khi gặp phải cây
cỏ có chất độc, hoặc cây cỏ có tính giải độc, hoặc ăn
vào thấy khoẻ. Dần dần có nhận thức phân biệt, tích luỹ
kinh nghiệm lợi dụng những tính chất đó nghiên cứu chữa
bệnh.
Như vậy việc phát
minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ. Nguồn gốc tìm ra
thức ăn, thức uống, thuốc và chất độc cũng chỉ là một.
Về sau có sự tổng hợp và đặt ra lý luận:
Theo truyền thuyết, người
ta cho rằng Vua Thần Nông một ngày nếm 100 cây cỏ để tìm
thuốc, có khi một ngày ngộ độc đến 70 lần. Rồi soạn ra sách
thuốc đầu tiên là: " Thần Nông bản thảo " . Trong bộ này
có ghi chép tất cả 365 vị thuốc, và là Bộ sách cổ nhất của
Ðông y ( chừng 4.000 năm trước ).
Nhưng
theo các nhà nghiên cứu khoa học hiện đại thì Vua Thần Nông
nói đây không phải là một người, mà là kinh nghiệm của
nhiều người tích luỹ lại viết thành sách, rồi để gây tin
tưởng mà truyền bá. Các tác giả đã đặt truyền thuyết
về Vua Thần Nông, vì thực tế bộ sách này chỉ xuất hiện vào
khoảng thế kỷ thứ II.
II. DƯỢC PHẨM NGŨ
VỊ LUẬN:
Thuốc
có ngũ vị tương ứng với ngũ hành tạng phủ như sau:
-
Tân ( cay ) thuộc Kim vào tạng Phế.
- Cam ( ngọt ) thuộc
Thổ vào tạng Tỳ
- Hàm ( mặn ) thuộc Thuỷ vào tạng Thận
- Toan ( mặn ) thuộc Mộc
vào tạng Can
-
Khổ ( đắng ) thuộc Hoả vào tạng Tâm
Thuốc có vị đắng thì
bốc đi thẳng, tánh tiết ra.
Thuốc có vị cay thì
đi ngang dọc, tánh tán đi
Thuốc có vị chua thì
sơ thông, tánh liểm lại.
Thuốc có vị mặn thì
chặn đứng, tánh mềm nhuận.
Chỉ có vị ngọt, có
lên xuống, vì hành thổ ở Trung ương ngũ hành từ đó mà
có, nên tánh nó bổ dưỡng.
Ngoài
ra còn có thêm vị đạm ( nhạt ), tính không qui vào tạng và
chỉ đi vào kinh thái dương bàng quang nên tính hay lợi tiểu.
III.
DƯỢC PHẨM ÂM DƯƠNG LUẬN:
Học
thuyết âm dương là cơ sở chỉ đạo của Y học phương đông.
Dược lý cũng không ngoài cơ sở đó.
Thuốc có tứ khí, ngũ vị lại có tính thăng giáng, phù,
trầm, luận về âm dương thì:
Tứ
khí:
- Hàn ( lạnh )
- Lương ( mát ) -
Thuộc âm
- Nhiệt ( nóng )
- Ôn ( ấm ) - Thuộc
dương
Ngũ
vị: Và vị đạm.
Vị cay, ngọt và đạm
thuộc dương.
Vị chua, đắng và mặn
thuộc âm.
Trong
tứ khí và ngủ vị cũng chia như sau:
- Hậu ( đậm đà, nồng
nặc ) - Bạc ( nhẹ nhàng nhạt nhẽo )
- Vị hậu thì bổ
Khí hậu thì giáng
- Thuộc âm
- Vị bạc thì tán
Khí bạc thì thăng
- Thuộc dươn
Bàn
về thăng giáng phù trầm
thì:
- Thăng phù ( đi lên,
nổi ) thuộc dương.
- Trầm giáng ( đi xuống,
chìm ) thuộc âm.
IV. DƯỢC THÂN CĂN
SẢO BIỆN:
( Bàn về cách dùng thân,
rễ, cành của cây thuốc )
Dùng theo đồng khí tương cầu thì :
-
Phần hướng lên trị bệnh thượng tiêu.
- Phần hướng xuống
trị bệnh hạ tiêu phần ở giữa trị bệnh trung tiêu.
- Cành nhánh đi ra tứ chi.
- Da vỏ đi ra bì phu
- Ruột thân, rễ đi
vào tạng phủ
- Cây thuốc nhẹ dễ vào tâm phế
- Cây nặng dễ vào can thận
- Cây rổng ruột hay
phát tán bên ngoài.
- Cây đặt ruột chuyên
trị bên trong
- Thứ khô ráo vào
khí phận.
- Thứ ẩm ướt vào
huyết phận.
V.CÁCH ÐẶT TÊN
CỦA VỊ THUỐC:
1.
Căn cứ vào tính chất như:Phòng phong ( ngừa gió ), Ích mẫu
( giúp mẹ ),Tục đoạn (nối đứt ).
2. Căn cứ vào khí vị
như: Ðinh hương, Cam thảo, Tế tân, Khổ sâm, Hương nhu.
3. Căn cứ vào hình
dạng như: Ô đầu, Ngưu tất, Cẩu tích, Câu đằng.
4. Căn cứ vào màu
sắc như: Hồng hoa, Huyền sâm,
Tử thảo.
5. Căn cứ vào cách
sống như: Hạ khô thảo, Bán hạ, Nhẩn đông đằng.
6.
Căn vào bộ phận dùng như: Tang diệp, Cúc hoa, Quế chi, Mâu căn,
Tô tử, Hổ cốt ..
7. Căn cứ vào người
tìm ra vị thuốc như: Ðổ trọng, Hà thảo, Sử quân tử
8. Căn cứ theo từ
ngoại quốc như: Actisô, Mạn đà la hoa.
9. Căn cứ vào nơi
sản xuất như: Xuyên khung, Agiao ( keo ở tỉnh Ðông A )
Xem
tiếp
|